Samstag, 21. März 2009

Kevin -video- TQ thuỷ công kế bao vây VN.


TRUNG QUỐC ÁP DỤNG BINH PHÁP TÔN TỬ "THUỶ CÔNG KẾ " BAO VÂY VIỆTNAM

TRUNG QUỐC đã và đang tiến hành theo binh pháp Tôn Tử " Thuỷ Công KẾ " tấn công Việt Nam không chỉ ngoài Biển Đông mà còn tấn công vào các con Sông lớn nuôi sống hàng triệu người Việt như Sông Hồng, Sông Đà , Sông Mekong ...

Thượng nguồn Sông Cửu Long ViệtNam , Khởi nguyên từ Tây tạng Qua Trung Quốc tên là Nujiang River, qua Miến Điện tên là Salween river , qua Lào Thái Kampuchia tên là Mekong River .

Mặc dù kế hoạch xây dựng 13 đập thuỷ điện tại TQ chỉ mới hoàn thành được 4 đập ( 2004 ) thì Ôn Gia Bảo phải tạm ngưng lại do sự chống đối dữ dội của quốc tế. Thay vào đó Trung Quốc tiến hành tài trợ cho các nước Miến Điện, Lào, Kampuchia xây dựng hàng loạt đập thuỷ điện đổ bêtong ngăn dòng sông Cửu Long . Vào mùa Khô nước được ngăn chặn bởi các đập nên giảm mạnh dòng chảy ra biển, khiến nước mặn xâm lấn vào đồng ruộng Việt Nam ngày càng sâu .

Các công ty Tháilan tham gia vào các dự án Thuỷ Điện tại Miến Điện đều là của các Đại gia Hoa Kiều Tháilan kết hợp với Hoa Kiều Miến Điện , nhóm Hoa kiều thiểu số này nắm quyền chi phối hơn 70% nền kinh tế 2 nước, với sự tham nhũng của giới chức cầm quyền họ dễ dàng hối lộ để thu lợi kếch sù .

Ngay tại Lào các công ty Thái Lan liên doanh xây dựng các công trình Thuỷ Điện với Lào đều lệ thuộc vào nguồn vốn vay của Hoa Kiều . Một vị Tướng Tháilan đã tức giận vạch trần sự thâm độc nguy hiểm của Thaksin, âm mưu " tư nhân hoá bán cổ phần các cty Điện của nhà nước Thái cho Hoa kiều Singapore và Thái Lan", khiến dân Thái thức tỉnh trước tương lai nô lệ của cả dân tộc đối với thiểu số Hoa Kiều thao túng mọi nghành kinh tê.

Ông Cựu thủ Tướng Thaksin đã thất bại khi bị sự chống đối của người Thái . Và mọi việc trở thành bão tố lật đổ chính quyền Thaksin khi vụ mua bán công ty viễn thông lớn nhất của Thái cho Hoa kiều Singapore bị phanh phui.

Đạo quân thứ 5 của Trung Quốc là mối đe doạ cho sự tồn vong của các dân tộc trong vùng Đông Nam Á.



The Mekong - Mother River of Southeast Asia (Part I)


The Mekong - Mother River of Southeast Asia (Part II)

Laos dam project raises concerns


Dams to sustain military dictatorship

Friday, 20 March 2009 16:36

Anti-dam campaigners have pointed out that dam projects do not benefit people but harm the natural environment and cause human rights violation.

The military junta has already drawn up projects to build 21 huge dams in Burma to be constructed by companies from Thailand, China and India. These dam projects will only earn revenue for the Burmese junta but will not benefit the masses. As a consequence of these projects, human rights violations will be rampant in the project sites, said the Burma River Network (BRN).


Ko Aung Nge, a spokesperson of the BRN, said that "the major aim of the dam projects was to earn money for the military junta. Our people have to face many difficulties once the dams are built. Army battalions will follow to set up bases in the areas after the dams are constructed. Human rights violations will follow as a result."

There is no public participation in decision making, no transparency in energy planning, and no alternative considerations for building the dams. On March 14 the International River Day, anti-dam campaigners urged neighbouring countries and international investors to put a halt to dam construction in Burma.

The dam projects will generate an estimated 35,000 mega watts of power. Experts estimate that the dam projects will cost US$ 35 million.

All dams will be built on Burma's major rivers the Salween, Irrawaddy, Chindwin, Sittaung in the upper reaches of the rivers.

"There will be indirect impact on the whole of Burma. Dams will be full of water. Paddy fields will be destroyed. People will be relocated. There will be mounting unemployment. Direct impacts will include human rights violations and forced labour," said Ko Aung Nge.

Due to the dams, there will be deforestation; plantations and fields will be flooded; green pastures will disappear; and there will be global warming, said an officer-in-charge of a forest organization.

There will be environmental destruction where woods and bamboo groves will be under water. There will be increase in flooded areas after the dams are completed. Green house gases will be released from many green plants and mud that are under water. The green house gases can cause global warming.

Dams threaten international recognized biodiversities and its enriched areas. Nobody can collect enough information about the destruction of the environment in these areas.


Kristin Halvorsen
the Norwegian Minister of Finance: “We cannot finance companies that support the military dictatorship in Burma through the sale of military equipment,”

Map of proposed dams on the Nu River

Freitag, 20. März 2009

Cán cân Hải QuânTQ và Hải Quân HK

Sau cuộc "ẩu đả" ngày 8 tháng 3-2009 giữa Hải Quân Hoa Kỳ (HQHK) và Hải Quân Trung Quốc (HQTQ) ở phía nam Đảo Nam Hải, vài thập niên sau này khi các nhà quân sử ghi lại cuộc chạm trán đầu tiên giữa hai lực lượng hải quân, họ sẽ không có nhiều chi tiết hấp dẫn để viết.

Và nếu các sử gia không giải thích rõ, đọc giả hậu thế có thể hiểu lầm "vũ khí" của hải quân hai cường quốc xử dụng trong cuộc đụng độ đó quá thô sơ, nếu không nói là giống như vũ khí thời Trung Cổ. Cuộc đụng độ đầu tiên có thể được ghi lại như sau: "... HQTQ dùng cần câu móc để cố gắng giựt đứt dây kéo máy truy tầm điện tử mà tàu HQHK đang dùng để thám thính. ... Và về phía HQHK, họ dùng vòi phun nước bắn ngăn chận các hải đỉnh Trung Cộng, khi tàu của Trung Quốc tiến đến quá gần. ..."

Bỏ đi tính chất khôi hài trong vụ đụng chạm vừa xảy ra ở gần đảo Hải Nam, đây có thể có thể mở màn cho một chạy đua tranh giành ảnh hưởng ở một vùng biển đang có nhiều quốc gia tranh chấp, nhưng Hoa Kỳ cho đó là hải phận quốc tế, và khẳng định mọi thuyền bè có quyền tự do di chuyển qua lại.

Hoa Kỳ cho biết, ngày 8 tháng 3-2009, trong khi tàu thám thính hải hình USNS Impeccable (T-AGOS 23) đang làm nhiệm vụ thám sát địa hình lòng biển ngoài hải phận quốc tế, khoảng 110 cây số phía nam Đảo Hải Nam, thì bị năm tàu của HQTQ tiến đến gần, rồi di hành qua lại trước hướng đi của tàu Impeccable một cách rất nguy hiểm. Có lúc tàu HQTQ đã tiến sát vào tàu Hoa Kỳ không hơn 10 thước. Thủy thủ đoàn tàu Impeccable đã dùng vòi nước chửa lửa xịt vào thủy thủ Trung Quốcđể ngăn cản không cho họ cập tàu gần hơn. Phía Trung Quốc cho biết họ có toàn quyền ngăn chận hoạt động trái phép của HQHK, vì Hoa Kỳ xâm phạm lãnh hải của họ.

Trong khi Hoa Kỳ công nhận đặc quyền kinh tế của một quốc gia từ bờ biển ra đến ngoài khơi 200 dặm (300km); nhưng Hoa Kỳ chủ trương quyền tự do hải hành chỉ cách 12 dặm (18km) ngoài khơi bờ biển của mọi quốc gia.

Công tác của tàu Impeccable là gì? Tại sao HQTQ lại có thái độ mạnh (nhưng áp dụng phương tiện yếu) với một tàu không võ trang? Và trong tương lai, nếu hộ tống hạm của HQHK lai vãng trong vùng Biển Đông mà Trung Quốc gọi là Nam Hải, thì phản ứng của HQTQ ra sao?

Điệp Vụ của Tàu USNS Impeccable (T-AGOS 23)

USNS là tên viết tắt của United States Naval Ship. T là ký hiệu cho loại tàu bán quân sự và thuộc quyền điều khiển của Bộ Tư Lệnh Quân Vận Đường Biển (Military Sealift Command). Bán quân sự là vì tàu hải quân Hoa Kỳ nhưng do dân sự điều khiển.

Các tàu loại T phần lớn là loại tàu yểm trợ (như tàu cứu thương, công xưởng hạm, vận tải hạm, tàu tiếp dầu, nước ...) thuộc quyền xử dụng Bộ Tư Lệnh Military Sealift Command. AGOS là ký hiệu chỉ loại tàu thám thính, vẽ bản đồ lòng biển, thâu thập âm thanh dưới nước, và tuần hành để yểm trợ cho các điệp vụ chống tàu ngầm.

T-AGOS 23 chính thức được ghi là Ocean Research Ship trong danh bộ tàu của HQHK - nhưng cộng thêm khả năng yểm trợ tác chiến chống tàu ngầm.

Ngày 8 tháng 3, chúng ta biết tàu Impeccable đang kéo máy truy tầm điện tử (hay thả máy truy tầm điện tử xuống đáy biển) ở phía nam đảo Hải Nam, khi cuộc chạm trán xảy ra. Trước vụ chạm trán ngày chủ nhật 8/03, Hải quân TQ đã khiêu khích một tàu khảo sát khác của Hải quân HK vài ngày trước đó. Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho biết, thứ Tư ngày 4, một tàu thuộc Sở Tuần Tiễu Ngư Nghiệp Trung Quốc đã dùng đèn pha chiếu vào tàu khảo sát địa dư USNS Victorious (tương tự như tàu USNS Impeccable) trong khi tàu này đang hoạt động 180 cây số ngoài khơi Hoàng Hải, vùng biển giữa Trung Quốc và Đại Hàn. Hôm sau, một phi cơ trinh sát Y-12 của Không Quân Trung Quốc bay qua lại thật thấp ngang tàu USNS Victorious 12 lần.

Sự có mặt của tàu Impecable ở Hải Nam không phải ngẫu nhiên; và công tác của tàu không đơn thuần như chỉ quan sát địa dư dưới lòng biển. Hoa Kỳ không lạ gì đối với tất cả địa hình miền duyên hải Trung Quốc từ nơi đối diện với Móng Cái đến phía bắc của Bắc Hải. Từ năm 1963, qua Kế Hoạch DeSoto, HQHK vừa thám sát vùng duyên hải Trung Cộng, vừa khẳng định lại chủ thuyết tự do di chuyển 12 dặm ngoài khơi bờ biển của mọi quốc gia.

Hải quân Trung Quốc cũng không lạ gì với những vụ thám thính của Mỹ: chỉ trong năm 1964 Trung Quốc lên tiếng phản đối HQHK đã xâm phạm lãnh hải của họ hơn 200 lần! Cũng từ kế hoạch trinh sát hải phận DeSoto này, chiến đỉnh Maddox của HQHK đã đi quá sâu và bờ biển của Bắc Việt, để gây ra vụ hải chiến Vịnh Bắc Việt vào tháng 8-1964 giữa Hoa Kỳ và Hải Quân CSVN.

Gần đây nhất, giới quan tâm không quên vụ đụng nhau trên không giữa một phi cơ thám sát điện tử EP-3 của HQHK và chiến đấu cơ F-8 của Không Quân Trung Quốcvào đầu tháng 4-2001. Hai bên đã biết ý định của nhau quá rõ.

Như vậy, tàu Impeccable đang có công tác gì khác hơn ở chung quanh căn cứ tàu ngầm của HQTQ ở Đảo Hải Nam ?

Hoa Kỳ Lo Ngại Khả Năng Nào của HQTQ ?

Nói một cách tổng quát, Hoa Kỳ chưa quan tâm về HQTQ như là một lực lượng đáng ngại - không phải trong lúc này, hay là trong tương lai gần.

Tài liệu Quốc Phòng Hoa Kỳ cho thấy, tổng cộng lực lượng của ba Hạm Đội Bắc Hải, Đông Hải, và Nam Hải của HQTQ, chỉ bằng một Hải Đoàn Hạm Đội Xung Kích (Carrier Strike Group) của HQHK - và HQHK có ba Hải Đoàn Hạm Đội Xung Kích ở Tây Thái Bình Dương. HQHK cho biết họ không lo ngại khả năng vũ khí của HQTQ trên mặt nước, như chiến đỉnh, hàng không mẫu hạm, pháo hạm, không lực hải quân. ...

Nhưng Hoa Kỳ quan tâm về những vũ khí HQTQ đang thử nghiệm và áp dụng dưới mặt nước, như mìn dưới nước, thủy lôi, và tàu ngầm. Đây là những loại vũ khí rẻ tiền, dễ sản xuất và dễ ngụy trang - nhưng rất hiệu nghiệm để ngăn chặn đối phương, trong giai đoạn đối phương có thế mạnh.

Từ năm 2004 HQHK đã lên tiếng báo động về hai loại vũ khí HQTQ đang phát triển và kiện toàn: Mìn nước và thủy lôi; và, tàu ngầm chạy bằng điện (qua máy phát điện diesel). Năm 2004 Đô Đốc Vermon Clark, Tư Lệnh HQHK, cho biết HQTQ đã gia tăng sản xuất, mua, hay nhờ sự giúp đỡ của các quốc gia tây phương (Pháp và Đức), để hạ thủy tiềm thủy đỉnh chạy bằng điện (battery-powered submarines). Tiềm thủy đỉnh chạy bằng điện có nhiều bất lợi và giới hạn, nhưng lợi điểm tối hậu là chạy rất êm, ít tiếng động, nên khó phát giác và truy lùng.

Sự kiện này được nhắc lại vào tháng 1-2007, khi Đô Đốc Micahel G. Mullen, Tư Lệnh HQHK (bây giờ là Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ) tiết lộ trước Ủy Ban Quốc Phòng Hạ Viện, là vào tháng 10-2006, một tàu ngầm chạy bằng điện của Trung Quốc đã tiến sát đến Hàng Không Mẫu Hạm Kitty Hawk ở vùng biển Đảo Okinawa, trước khi bị khám phá. Đô Đốc Mullen cho biết ưu tiên của HQHK trong tương lai là phải cấp bách phát triển khả năng truy tầm tàu ngầm của Trung Cộng.

Giới quan sát HQTQ cho biết thêm, chỉ trong 12 năm, từ 1995 đến 2007 năm, HQTQ đã hạ thủy tất cả 31 tàu ngầm, trong đó có ít nhất là 2 tàu ngầm nguyên tử. Theo dự đoán của Hoa Kỳ, đến năm 2020, HQTQ sẽ có ít nhất là 60 tiềm thủy đỉnh, trong đó hơn 30 tàu được xếp vào loại tối tân.

Một loại vũ khí thứ hai của HQTQ gây chú ý cho HQHK là mìn dưới nước và thủy lôi (Trong định nghĩa quân sự, mìn nước và thủy lôi khác nhau ở chổ, thủy lôi có thể di chuyển đến mục tiêu; trong khi mìn nằm cố định ở một vị trí.). Trong chiến lược hải quân, mìn nước là một phương tiện thích hợp nhất để ngăn cản, hay ít nhất gây nhiều đình trệ cho hướng tiến quân của đối phương lên miền duyên hải. Mìn rất rẻ để sản xuất, và dể dàng ứng dụng.

Hoa Kỳ quan tâm đến một lọai thủy lôi-mìn mà HQTQ đặt tên là "tự hành thủy lôi" (zihang shuilei). Loại mìn này được bắn ra từ tàu ngầm hay thả từ chiến đỉnh xuống biển. Mìn có trang bị động cơ để tự di chuyển. Khi đến một tọa độ đã định, động cơ ngừng và mìn chìm xuống lòng biển. Mìn-thủy lôi đó có ngòi nổ bằng từ trường (magnetic), âm thanh của sóng nước (wave-activated), hay điều khiển bằng vô tuyến. Mìn nước là một chiến lược của HQTQ để chống lại lọai chiến đỉnh duyên hải (Littoral Combat Ship, chiến đỉnh có khả năng hoạt động sát bờ biển và vùng nước cạn) mà HQHK sắp trang bị.

Nhưng mìn nước trang bị bằng chất nổ quy ước không làm cho các tư lệnh HQHK mất ngủ bằng mìn hay thủy lôi có đầu đạn nguyên tử chiến thuật (bom/ đạn nguyên tử chiến thuật có sức tàn phá trong chu vi hai, ba hai cây số vuông).

Đây không phải là một chiến lược mới lạ - HQTQ học lại từ chiến lược quân sự của Nga và Hoa Kỳ. Trong cao điểm của thời Chiến Tranh Lạnh của thập niên 50 và 60, Hoa Kỳ đã sản suất nhiều đại bác bắn đạn nguyên tử chiến thuật để trang bị cho quân đội NATO. Lý do Đồng Minh Tây Âu phải trang bị đại bác nguyên tử chiến thuật vì Nga và đồng minh Đông Âu có số lượng quân và xe tăng hơn gấp bốn lần khối NATO. Đối với HQTQ, việc xử dụng mìn nước nguyên tử là chuyện "chẳng đặng đừng," nhưng đó là một khả thể nếu tình hình bắt buộc. Về khả thể nguyên tử chiến thuật này, các tư lệnh HQHK không có câu trả lời.

Chiến Lược "Biển Xanh" Của Hải Quân Trung Quốc

Để những độc giả không rành về thuật ngữ của hải quân, từ "biển xanh" như trong câu văn "hải quân biển xanh," có ý chỉ hải quân có khả năng hoạt động xa ra ngoài đại dương (nước biển càng xa bờ thì càng xanh).

Hàng không mẫu hạm là trung tâm của một hạm đội; và hạm đội là cột trụ của hải quân của một quốc gia. Để có một hạm đội có thể hoạt động vài ngàn cây số cách hải phận nhà, là một chuyện không đơn giản cho HQTQ trong lúc này. Nhất là khi họ chưa có được một hàng không mẫu hạm.

Năm 1998 Trung Quốc mua lại từ Ukraine một hàng không mẫu hạm đang đóng chưa hoàn tất - mẫu hạm chỉ có vỏ bên ngoài, chưa có máy móc hay trang bị bên trong. Sau khi mua mẫu hạm Varyag, Trung Quốcký hợp đồng để mua khoảng 50 phi cơ Su-33K, để thực tập cất cánh và đáp trên mẫu hạm.

Theo các nhà quan sát quân sự, HQTQ mua mẫu hạm Varyag về để huấn luyện, biến chế thêm, hay dựa vào đó sản suất một hàng không mẫu hạm tương tự. Tuy nhiên ngay cả nếu HQTQ thành công tự đóng lấy một mẫu hạm loại Varyag, thì khả năng hạm đội của HQTQ chưa có gì đáng nói.

Chưa có hàng không mẫu hạm nên HQTQ không thể hoạt động xa căn cứ tiếp liệu. Chiến lược của HQTQ, như vậy, đặt trọng tâm vào hoạt động bảo vệ miền duyên hải - có nghĩa là sản xuất thêm nhiều tàu ngầm, mìn nước và thủy lôi.

Tin tức tình báo HQHK cho biết, Trung Quốc mua kỹ thuật chế mìn từ Nga; máy phát điện cho tàu ngầm, từ Pháp và Đức. HQTQ hy vọng số lượng nhiều sẽ thay cho khiếm khuyết kỹ thuật. Đúng như vậy: và số lượng là một trong những vấn đề gây trở ngại cho HQHK.

Để đối phó với số lượng mìn, thủy lôi và tàu ngầm, Đô Đốc Vermon Clark ra lệnh HQHK gia tăng thí nghiệm và sản xuất thêm "hàng ngàn, hàng chục ngàn máy báo động" để truy tầm và đánh dấu mọi di chuyển dưới nước của HQTQ.

Qua quân lệnh của Đô Đốc Clark, đến đây chúng ta có thể đoán được sự hiện diện và mục đích của hai tàu "khảo sát địa dư biển" USNS Impeccable ở Nam Hải, và USNS Victorious ở Bắc Hải: rải máy truy tầm và định vị (đánh dấu vị trí) mìn nước hoạt động tàu ngầm ở vùng duyên hải Trung Cộng.

Giả định Trung Quốc hạ thủy được một hàng không mẫu hạm vào năm 2012, HQTQ vẫn còn nhiều khiếm khuyết trong tương quan đối với hải quân của các cường quốc. Những khuyết điểm quan trọng như, thiếu hoàn hảo về hệ thống C4ISR (Control, Command, Communication, Computer, Intelligence, Surveillance and reconnaisance/ chỉ huy, điều khiển, truyền tin, điện toán, tình báo, canh chừng và thám sát). HQTQ còn yếu về chiến tranh chống tàu ngầm, chống không kích, và chống thủy lôi.

Quan trọng hơn hết, khả năng của HQTQ bị giới hạn toàn diện khi kỹ thuật đóng tàu chiến của Trung Quốc còn bị phụ thuộc vào các quốc gia Tây phương. Hiện nay Không Quân Trung Quốc đã mua được máy bay tiếp tế xăng trên không và đang thực tập kỹ thuật này.

Phải có khả năng tiếp tế xăng trên không thì Không Lực HQTQ mới có thể hoạt động song song với mẫu hạm trên một mặt trận vài ngàn cây số.

Như đã nói ở trên, tổng cộng hỏa lực ba Hạm Đội của HQTQ chỉ tương đương bằng một Hải Đoàn Mẫu Hạm Xung Kích (Carrier Strike Group) của Mỹ. Như là một Quân Chủng, HQTQ có 59 tiềm thủy đỉnh, trong đó chỉ có 5 chiếc chạy bằng nguyên tử; 62 chiến đỉnh; 54 vận tải hạm đổ bộ; và, 46 phi cơ tuần tiễu biển có trang bị hỏa tiễn.

Để so sánh, Hoa Kỳ có 3 Hải Đoàn Mẫu Hạm Xung Kích ở Tây Thái Bình Dương (là vùng biển từ Đảo Guam đến eo biển Malacca của Singapore).

Trong tương quan quá chênh lệch so với đối phương, HQTQ cố gắng thực tập và trang bị những gì họ có thể làm thuần thạo nhất: sản suất tàu ngầm nhỏ, chế thêm mìn nước và thủy lôi, và dùng tàu ngầm làm phương tiện thả mìn.

Phản Ứng Của Hải Quân Hoa Kỳ Đối Với Chiến Lược Của HQTQ

Trong hai tường trình mới nhất về khả năng của HQTQ, một tường trình do chính Quốc Hội Hoa Kỳ soạn thảo (China Naval Modernization: Implications for U.S. Navy Capabilities - Background and Issues for Congress, November 19, 2008), và một đến từ Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ (Annual Report to Congress, Military Power of the People's Republic of China 2008), cả hai tường trình đều cổ vũ chiến lược canh chừng, định vị và trinh sát thường trực hoạt động của HQTQ.

HQHK cổ võ một chiến lược thụ động như vậy, vì trên thực tế, HQTQ chưa hoạt động được xa, và chưa có những thái độ gây hấn rõ ràng ở Thái Bình Dương - cho đến khi HQTQ thật sự có được một lực lượng hàng không mẫu hạm.

Hải Quân Thế giới không ngạc nhiên hay bàn tán khi những quốc gia như Ấn Độ, Á Căn Đình, hay Ba Tây có hàng không mẫu hạm. Nhưng thế giới quan tâm khi HQTQ có được khả năng đó. Vì khi có hàng không mẫu hạm, Trung Quốcsẽ ngự trị vùng biển Tây Thái Bình Dương và vùng Đông Nam Á.

Lặp lại lời tuyên bố của Đô Đốc Vermon Clark, để đối phó với HQTQ, Hoa Kỳ phải chế biến và thử nghiệm, "hàng ngàn, hàng chục ngàn" máy truy tầm để canh chừng, trinh sát và định vị những vũ khí dưới mặt nước của HQTQ. Thử nghiệm có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ rải những máy truy tầm ở những miền duyên hải Trung Quốcvà những vùng có tàu ngầm hoạt động.

Trước đây, HQHK dùng một số sensor (máy truy tầm và báo động) cần có sự hoạt động song song của phi cơ: Sensors thả xuống biển, nằm trôi nổi trên mặt nước, hay lưng chừng trên đáy biển. Hàng ngày hải quân phải cho loại máy bay P-3 Orion bay sát trên mặt biển để thâu lại những tín hiệu được máy sensors thâu lại trong 24 giờ qua.

Trong thời gian gần đây HQHK đã thử nghiệm hai loại sensors mới, tối tân và hữu hiệu hơn: hai loại có tên là Twin-line Thin-line (TLTL), và vector-sensor towed arrays (VSTA). Máy có khả năng truy tầm chu vi rộng, phân lọai mục tiêu, và xác định vị trí mục tiêu chính xác hơn, và có thể tắt mở từ xa để tiết kiệm pin. Nhưng tiện lợi nhất, là máy có thể tự gởi đi tin tức thẳng lên vệ tinh bay trên trời, không còn cần phi cơ bay qua lại hàng ngày để thu lượm tin tức như trước.

Với một sự suy đoán e dè của người viết, nhiệm vụ của hai tàu USNS Immpeccable và USNS Victorious trong hai ngày 4 và 8 tháng 3 vừa qua, không gì khác hơn là kéo (và có thể thả xuống lòng biển) những máy VSTA đã nói trên.

Trong lúc HQTQ chưa có được hàng không mẫu hạm để ra uy, họ tạm thời dùng cần câu móc để "chọt" hải đỉnh Hoa Kỳ. Tương tự, khi thực lực của HQTQ chưa lộ liễu và đáng ngại, súng phun nước là đối phó vừa đủ của HQHK trong hoàn cảnh nhất thời.

Nhưng có thể hai bên sẽ không xài đồ chơi này lâu: Ngày 10 tháng 3, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho biết họ sẽ gởi chiến hạm có trang bị hỏa tiễn USS Chung-Hoon (ĐG 93) đến vùng biển nam Đảo Hải Nam, để hộ tống USNS Imppeccable.

Đây là một lối "chơi chữ" của HQHK. Chiến đỉnh USS Chung-Hoon là tên của Đề Đốc Gordon Pai'ea Chung Hoon. Đề Đốc Chung Hoon là người Mỹ gốc Tàu, sinh ra ở Hawaii, tốt nghiệp Võ Bị Hải Quân Annapolis năm 1943.

Nghe nói Trung Quốccũng sẽ gởi một tuần dương đỉnh đến vùng biển Nam Hải, với lời tuyên bố là họ sẽ bảo vệ lãnh hải đến cùng trong trường hợp cần th
Tác giả : Nhà biên khảo Nguyễn Kỳ Phong (Mỹ)

Donnerstag, 19. März 2009

Montag, 16. März 2009

Thời sự đất nước: Bao giờ nguồn ODA Nhật bản trở lại?

Nguồn hỗ trợ ODA Nhật bản - chi viện chính thức của chính phủ Nhật bản cho nhân dân ta dưới hình thức cho vay dài hạn với lãi xuất ưu đãi, đã bị cắt từ đầu tháng 12-2008.

Trên thực tế, nguồn chi viện ấy đã bị chính phủ Nhật treo lại ngay từ giữa tháng 8-2008, khi vụ ăn hối lộ của quan chức Việt Nam do công ty Nhật PCI (Pacific Consultant Institute) đưa, lên đến hơn 2 triệu đôla, bị tiết lộ.

Chính phủ Nhật tỏ ra rất hào phóng trong viện trợ cho Việt Nam. Đã 2 năm nay, ODA Nhật bản lên đến mức trên 1 tỷ đôla/năm, luôn dẫn đầu, vượt rất xa mọi nước khác, bao gồm một loạt dự án lớn nhất đất nước về đường xá, cầu cống, hải cảng và khu công nghiệp mũi nhọn, đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật cao.

Như các nước khác, hỗ trợ Việt Nam qui mô lớn, Nhật bản cũng mong các công ty, nhà thầu của Nhật sẽ nhận được những gói thầu lớn, theo đúng pháp luật, có lợi chính đáng cho cả 2 bên. Nhiều lần quốc hội Nhật, báo chí Nhật tỏ ra lo ngại, giận dữ khi một số hỗ trợ ODA lấy từ tiền thuế dân Nhật đóng, giúp vài nước châu Phi bị cắt xén do tệ quan liêu và tham nhũng, làm tha hoá bộ máy cai trị.


Tác giả trong một cuộc phỏng vấn với báo Nhật. Ảnh do tác giả cung cấp.
Bộ kế hoạch và đầu tư và ngành giao thông vận tải Việt nam hiểu rất rõ vụ hối lộ của PCI cho các quan chức Việt nam gây nên tổn thất và trở ngại to lớn ra sao. Các công trình trọng điểm lớn nhất bị dở dang, đình trệ, vốn bị cạn, công nhân không việc.

Có thể nói từ thủ tướng, phó thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng, ngành giao thông, giới làm kinh tế cho đến người dân trong nước đều trông mong - mỗi người do động cơ khác nhau - vốn ODA Nhật bản (dự tính 900 triệu đôla cho năm 2009 này), được nối lại rất sớm.

Đã có nhiều thông tin lạc quan theo hướng ấy.

Nào là từ tháng 1-2009, cựu thủ tướng Nhật Yasuo Fucuda thăm Hànội đã ủng hộ việc sớm nối lại nguồn ODA.

Nào là Hoàng Thái tử Nhật Naruhito mới thăm Việt Nam tháng trước cũng tuyên bố sẽ thúc đẩy việc này. Rồi cũng trong dịp này, tài tử trứ danh Sugi Ryotaro với danh nghĩa "đại sứ hữu nghị đặc biệt", cũng chung một ý định, sớm nối ODA Nhật.

Mới đây hãng tin Nhật Kyodo và Việt nam thông tấn xã cùng đưa tin là văn bản về nối lại ODA sẽ có thể ký giữa 2 bên cuối tháng 3, nghĩa là chỉ trong một, hai tuần lễ.

Vậy bà con ta đã có thể trông chờ điều tốt đẹp sắp tới trong quan hệ Nhật - Việt?

Nên thận trọng, kẻo lại bị bất ngờ.

Một số nhà báo Nhật bản bạn cũ của tôi, từ Tokyo và Bangkok, cho biết ý nghĩ của họ trong việc này. Thông tin điều này có thể là có ích.

Họ cho rằng "quả bóng vẫn ở phía chân Việt nam"; "rằng hồ sơ vẫn còn trên bàn của bộ chính trị cộng sản Việt Nam"; "rằng mọi sự còn phụ thuộc ở Việt Nam có thái độ ra sao đối với bị cáo ăn hối lộ"; "rằng nhiều công ty, nhà thầu Nhật bản lobby (vận động hành lang) mạnh để sớm nối lại ODA, nhưng ngành ngoại giao và lập pháp ở Nhật vẫn rất nghiêm, họ còn cân nhắc kỹ".

Một anh bạn Nhật chân thật: "đáng tiếc, thủ tướng của Việt nam hình như ít am hiểu tập quán ngoại giao và tâm lý ngoại giao, ít hiểu văn hoá Nhật chúng tôi trong vụ này".

Trao đổi một hồi trên điện thoại viễn liên, tôi mới vỡ lẽ các bạn Nhật muốn nói gì.

Các bạn Nhật muốn nhắn rằng, với nước Nhật, cần gõ cửa cho đúng. Vì xã hội Nhật phân công rạch ròi, không ai đạp lên chân ai, dễ ngã cả loạt.

Cái kiểu Hà Nội tranh thủ cựu Thủ tướng Fucuda, rồi tranh thủ Hoàng thái tử Naruhito, săn đón đại sứ hữu nghị đặc biệt Sugi Ryotaro là rất ít hiệu quả. Bởi lẽ, theo tập quán Nhật, thủ tướng đã ra đi sẽ không can thiệp vào việc của thủ tướng kế nhiệm; mọi việc đã bàn giao xong. Hoàng thái tử chỉ lo chuyện lễ nghi và từ thiện, không được, không dám làm gì khác, kỵ nhất là chuyện kinh tế, đấu thầu, tiền bạc, tòa án. Còn Đại sứ "hữu nghị loại đặc biệt", ông ta chỉ có nhiệm vụ cười, cười rộng rãi và dễ dãi, cúi đầu gật gật xã giao cho thật dẻo, và tối kỵ lấn sân sang vị đại sứ toàn quyền chuyên nghiệp. Cứ yên chí cả tin ở các vị này, khéo mà lầm cửa.
Cái "không hay" của thủ tướng Dũng, có thể nói cái "hớ hênh không nên có" của ông Dũng còn là làm mất lòng một nhân vật Nhật bản trực tiếp tham gia quyết định cắt và nối nguồn ODA Nhật cho Việt nam.

Đó là đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật bản ở Hà Nội Mitsuo Sakaba.

Ông M.Sakaba là một nhân vật nhiều triển vọng của ngành ngoại giao Nhật bản. Ông được đào tạo rất bài bản, thành thạo Anh, Pháp, Hoa ngữ... Ông từng là đại sứ Nhật ở UNESCO - Paris trong 2 năm, rồi về Tokyo làm người phát ngôn Bộ ngoại giao Nhật. Các nhà báo Anh, Pháp, Đức, Mỹ ... hồi ấy rất "mê" những buổi họp báo của ông Sakaba, bởi ông bao giờ cũng nắm được thực chất câu hỏi của các nhà báo quốc tế để trả lời ngay thật, pha chút hóm hỉnh, thông hiểu, trái ngược với những lưỡi gỗ trơ tráo, tẻ nhạt, nói lấy được của đồng nghiệp ở Bắc kinh và Hà Nội."

Ông mới đến Hà Nội tháng 3-2008, đã nổi lên trong giới ngoại giao như một đại sứ năng động, thích văn hoá, ưa thể thao, mê nghiên cứu ẩm thực, đặc biệt rất ham đi những vùng sâu, vùng xa, nặng lòng cứu giúp những vùng nghèo, dân nghèo.

Mới đây, khi ODA lớn bị ngừng, ông chuyển hướng, đích thân xông xáo đôn đốc hơn 30 dự án nhỏ bé, cò con, như dự án xây trường tiểu học xã Mường Khên tỉnh Hoà bình, như dự án giao thông nông thôn cho xã Hương Lâm tỉnh Bắc Giang, mỗi nơi gần 100 ngàn đôla, hoàn thành nhanh, gọn, cùng chính quyền sở tại kiểm soát kỹ, không bị xà xẻo ...

Ấy vậy mà ông Dũng không những không tranh thủ ông đại sứ Nhật, lại còn trách móc, đến độ như xúc phạm ông một cách công khai, trước mặt các quan chức và nhà báo quốc tế, trước mặt cả các quan chức Nhật, khi ông vắng mặt.

Theo gợi ý của các bạn Nhật, tôi tìm lại bản tin VN Thông tấn xã ngày 10-2-2009, như sau:

"Chiều 9-2, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Đại sứ hữu nghị đặc biệt Nhật bản-Việt nam Sugi Ryotaro. Đại sứ Sugi vui mừng thông báo với thủ tướng việc Nhật bản sẽ sớm khôi phục lại vốn ODA dành cho Việt nam". Ở đoạn cuối: "Thủ tướng cho rằng nếu chỉ vì nghi vấn (!) một cá nhân của Việt nam trong vụ án tham nhũng liên quan đến vốn ODA mà Nhật bản đơn phương chấm dứt viện trợ ODA cho Việt nam là đáng tiếc (!)".

Với Hoàng Thái tử Naruhito, ông Dũng còn đi xa hơn, mà mách rằng: "việc phía Nhật đơn phương cắt ODA không bàn bạc trước, ngay giữa cuộc họp quốc tế lớn về đầu tư đầu tháng 12-2008 đã làm ảnh hưởng đến tình hữu nghị Nhật - Việt".

Ông Dũng hẳn biết rõ - như ông đại sứ Sakaba nói với các báo ở Hà Nội từ đầu tháng 12 - rằng việc ngừng ODA là theo lệnh trực tiếp từ thủ tướng Nhật đương nhiệm Taro Aso, đại sứ rất tán thành, vì nhiều nghị sỹ Nhật và dân đóng thuế Nhật bất bình sâu sắc về sự việc xảy ra.

Tốt nhất là thủ tướng Việt Nam tỏ lời chân thành xin lỗi vì rõ ràng chính phủ Việt Nam có trách nhiệm trong quản lý vốn ODA. Không xin lỗi, lại còn trách cứ ngược lại thủ tướng và đại sứ Nhật, và đi nói riêng với với Hoàng thái tử Nhật và với đại sứ hữu nghị Nhật bản, đổ lỗi cho phía Nhật đã gây nên ảnh hưởng xấu trong quan hệ Nhật - Việt! Thật quá đáng. Người đứng đầu chính phủ mà làm công tác đối ngoại kỳ cục, dại dột, không biết điều như vậy.

Với các nhà báo Nhật, ông Dũng còn đi xa hơn, phàn nàn rằng: "đến nay Nhật bản vẫn chưa cung cấp cho phía Việt nam những chứng cứ của vụ việc..."(!)

Các nhà báo Nhật chỉ mỉm cười.

Vì họ biết rõ, chính phía Nhật đã 6 lần gửi từng tập tài liệu hàng nghìn trang gồm: khẩu cung của cơ quan điều tra, lời khai viết của 4 bị cáo Nhật, băng ghi âm trước toà án, lời tả chi tiết về 4 lần giao tiền cho quan chức Việt Nam, lên đến 2 triệu 6 đôla, lại còn cử cán bộ điều tra, toà án và bộ tư pháp Nhật sang tận Việt nam để trình bày thêm.

Họ biết rất rõ, bộ tư pháp Nhật đã yêu cầu phía Việt Nam trả lời cho 23 câu hỏi, chủ yếu nhất là: - cho đến tháng 12-2008, các bị cáo Việt Nam đã nhận hay không nhận có ăn hối lộ của PCI, nếu nhận là bao nhiêu lần, lên đến bao nhiêu? Họ tẩu tán đi đâu? Có những ai dính đến vụ án? Họ khai và thú nhận những gì rồi?

- số tiền ấy được thương lượng ra sao, giữa 2 bên, do ai thương lượng, ngả ngũ ra sao? thủ đoạn giao nhận?

- số tiền ấy đã chia cho bao nhiêu người, những ai, chức vụ khi ấy làm gì? thu hồi lại được bao nhiêu?

- phía Việt nam bao giờ xử kẻ bị cáo, và cần phía Nhật hợp tác thêm những gì ? các ông đánh giá ông Huỳnh Ngọc Sỹ ra sao trong vụ ăn hối lộ này?

Hàng loạt câu hỏi ấy đặt ra gần 4 tháng nay, và vẫn còn chờ trả lời.
Các bạn nhà báo Nhật cho rằng phía Việt Nam đã có những việc làm tuy chậm nhưng đáng hoan nghênh. Đó là lập Uỷ ban hỗn hợp Nhật - Việt cùng nhau thảo thể lệ quản lý nghiêm vốn ODA, thanh tra chất lượng công trình, kiểm tra việc chi tiêu, lập thêm một cơ quan giám sát đấu thầu; bắt tạm giam 2 ông Huỳnh Ngọc Sỹ và Lê Qủa và hứa hẹn sẽ xét xử nghiêm minh vụ án này.

Báo Nhật cũng ghi nhận bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Võ Hồng Phúc sang Nhật tháng 2-2009 đã thông báo chính phủ Việt nam đã xếp vụ án ăn hối lộ của PCI là một vụ án trọng điểm, có nghĩa là sẽ được uu tiên xét xử một cách công khai, minh bạch, đúng luật. Phía Nhật chờ từng ngày. Bao giờ?

Báo chí Việt Nam vẫn còn bị cấm ngặt không được nói đến vụ án PCI, không được tìm hiểu và đưa tin gì về vụ án đã thành trọng điểm này, cũng như phải quên vụ án PMU18 đi, dù nó đã kéo lê thê hơn 3 năm. Nhà báo chỉ được phép đưa những tin lạc quan, một chiều, rằng cuối tháng 3, hai chính phủ sẽ ký nghị định thư nối lại ODA đang mong chờ; rằng tháng 4, ông tổng bí thư Nông Đức Mạnh sẽ sang Tokyo giải quyết mọi vướng mắc cho thông suốt ở mức cao nhất với thủ tướng Taro Asô; khi ấy dòng chảy ODA có thể chảy vào thông suốt và dồi dào.

Nhưng vẫn còn một trở ngại. Một trở ngại, không nhỏ chút nào. Hãy nghe ông Đại sứ Mitsuo Sakaba nói với phóng viên VietnamNet chiều ngày 10-3: "Chúng tôi đang theo dõi rất chặt chẽ sự kiện xử lý vụ án ăn hối lộ của công ty Nhật PCI". Ông nói thêm, vẫn với giọng rất nghiêm nghị: "Tôi đang chờ xem hành động xử lý cụ thể vụ án hối lộ này của phía Việt Nam".

Ai nấy đều biết chính quyền Việt nam đã đánh tráo, từ vụ án "ăn hối lộ của công ty PCI" Nhật thành ra một vụ án hoàn toàn khác là: "lấy nhà công cho công ty Nhật PCI thuê rồi chia tiền cho viên chức cơ quan". Về tư pháp, đây là xét xử án "không đúng vụ việc", "không đúng người", "không đúng tội danh". Đánh tráo vụ án ăn hối lộ lên đến 2 triệu 6 đôla bằng một vụ án hoàn toàn khác, với giá trị 1.200 triệu đồng, bằng 70.000 đôla, chỉ bằng 1 phần 37 vụ án trước.
Một chính phủ, có luật pháp hẳn hoi, có toà án, có viện kiểm sát, có thanh tra chính phủ, còn có cả một ủy ban đặc trách chống tham nhũng, trong một vụ án lớn có quốc tế tham gia theo dõi chặt chẽ, lại giở trò gian lận một cách trắng trợn và lộ liễu đến vậy. Mà vẫn cứ tỉnh bơ!

Phía Nhật đang mong chờ xử vụ án PCI đúng người, đúng tội, đúng luật. Họ sẽ rất chăm chũ theo dõi kỹ càng, chặt chẽ, như họ nói.

Nếu như Việt Nam lờ đi, chưa xử, mua thời gian, để sau 4 tháng sẽ cho 2 bị cáo về nhà (họ chỉ bị "tạm giam" 4 tháng), hoặc xử qua loa chiếu lệ một vụ án nhỏ thay thế để làm phép, thì chắc hẳn vốn ODA sẽ vẫn còn bị treo lơ lửng. Ông Nông Đức Mạnh không thiếu lý do để nằm nhà.

Nghĩ cho cùng, nước thiếu vốn, xã hội thiếu đường, thiếu cầu, công nhân thiếu việc, nhưng các ông lớn còn có thiếu gì.

Nhưng riêng ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì đang rất cần niềm tin, cần uy tín trong vụ này. Ông phải sữa chữa những vụng về hớ hênh của một người đứng đầu chính phủ. Uy tín ông đang xuống thấp.

Năm ngoái ông Dũng đã sai lầm phát lệnh "không được xuất khẩu lúa gạo để làm dự trữ quốc gia, cân bằng lương thực", làm nông dân Nam bộ thiệt 1 tỷ đôla. Ông lại đang lao vào vụ Đác Nông nguy khốn, tiến lui đều khó. Ông lại vừa liều tiên đoán "sang tháng 5 kinh tế Việt nam sẽ khởi sắc", làm cho báo The Economist Anh ngày 5-3 mới rồi kêu lên rằng thủ tướng Việt Nam bắt mạch kinh tế như một ông lang băm, rao bán dầu cù là! (nguyên văn: the prime minister Nguyên Tân Dung has predicted that the economy will start to pick up as early as May! As weeks go by, that makes him sound more like a seller of snake-oil than of snake-blood!".

Trên cương vị Trưởng ban chống tham nhũng của chính phủ, ông Dũng hãy sắn tay áo đôn đốc việc xét xử vụ án trọng điểm PCI này, để từ trong ra ngoài nước đều thấy rõ ông là người "thật sự kiên quyết hành động chống tham nhũng", như ông cam kết.

Nguồn ODA của Nhật có sớm được chắp nối lại hay không là tuỳ thuộc ở hành động của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, ở ý chí của bộ chính trị đảng CS trong chống tham nhũng, qua sự xét đoán tỉnh táo, công bằng sau đó của chính phủ Nhật, người giữ hầu bao ODA, luôn ưu ái đến sự chậm tiến và thiệt thòi của dân Việt nam, luôn lo lắng đến một loạt dự án trọng điểm đang dở dang, lâm đại nạn.

Paris 16-3-2009
Bùi Tín