Dienstag, 24. März 2009

Kevin ăn chanh


Lan man nghĩ về TNGT .

Tai nạn giao thông đường là do xảy ra đối với những người đang tham gia giao thông trên các tuyến đường bộ hay trên đường chuyên dùng và đối với người đi bộ. Mấy ngày nay trên báo chí ngày nào cũng có đăng tải những vụ tai nạn giao thông nhất là ô tô gây ra cho người đi bộ . Điều này chứng tỏ mức độ an toàn giao thông của VN mình cực kém cộng với cơ sở hạ tầng kém phát triển dẫn đến những nguyên nhân tai nạn đáng tiếc mà người lĩnh đủ . Đa phần vẫn là những người dân thường .TNGT thường đi cùng với thiệt hại do hao phí thời gian lao động của chính người bị tai nạn và đến cả của những người liên quan chăm sóc hao tiền tốn củavề kinh tế, bao gồm: chi phí mai táng người chết, chi phí y tế cho người bị thương, thiệt hại về phương tiện giao thông, về hạ tầng, chi phí khắc phục, điều tra vụ TNGT. Gây tâm lý tổn thương tinh thần của những người thân nạn nhân .Thậm chí ảnh hưởng đến cả uy tín của 1 quốc gia . Một ví dụ điển hình gần đây nhất là vụ lật xe tại đèo Đại Ninh của 10 người Nga bị thiệt mạng . Tôi có xem mấy tờ báo mạng PV có 1 phóng sự điều tra lái xe Nguyễn văn Lâm là người cầm lái trong vụ lật xe còn sống sót . Anh ta có trả lời là xe bị mất phanh ? Một câu trả lời tường thuật lại của Lâm với PV là khi phát hiện ra xe bị hỏng phanh , Lâm đã chuyển về số 3 không kịp . Phải chăng xe chạy trên đèo mà Lâm đã cài số 4 hoặc số 5 ? Theo kinh nghiệm lái xe của tôi thì với số 4 số 5 thường chỉ áp dụng ở đường cao tốc mà thôi . Liệu Lâm có phải chạy quá nhanh ? Mà báo chí nói là Lâm đã có kinh nghiệm 20 năm chạy xe . Theo tôi đc biết đường cao tốc ở VN cao nhất chỉ đạt tốc độ 80-100km/h mà thôi . Trong khi đó xe chở khách thì dài đường đèo lại xấu hẹp và hiểm trở . Có nghĩa là đường cua của xe sẽ rất lớn . Trong khi đó anh Lâm lại để số 4 , 5 để chạy , riêng cài số 3 chạy đường đèo ở VN đã là cực kỳ nguy hiểm rồi . Lúc này cơ quan điều tra sẽ phải kiểm tra chất lượng xe và điều tra và kiểm tra kỹ thuật của cả anh tài xế Lâm này cũng nên . Có thể tôi trộm nghĩ : Gia đình thân nhân của 11 người Nga bị thiệt mạng và ngoài ra là bị thương liệu họ có lên tiếng đòi bồi thường ? Theo tôi số tiền sẽ không phải là nhỏ . Vấn đề này Bộ khẩn cấp của Nga đã phải điều 1 máy báy cứu thương chuyên dụng sang VN để chở thi hài và những người bị thương trở về . Một chi phí không nhỏ trong 1 vụ tai nạn đáng tiếc này . Qua những vụ tai nạn giao thông xảy ra ở VN mà tôi nghĩ đến chất lượng của phương tiện và chất lượng đào tạo người điều khiển phương tiện giao thông là cái "chốt" chính để gây nên những tai nạn đáng tiếc . Có 1 lần tôi ngồi nói chuyện với 1 anh bạn quen từ thời học sinh nay đã là giáo viên dạy lái xe tên Nam . Nam kể : Trước khi học viên thi tốt nghiệp lái xe ra trường là những lúc mình khó sử nhất . Bởi họ ân cần chu đáo quá cho nên không nỡ đánh "rớt"! Tôi hiểu ý Nam nói ....viết tiếp.

"CỐ Ý LÀM TRÁI" ĐỂ ĐỔI MỚI

SỰ KIỆN SSP LẮP ĐẶT TRẠM VÊ TINH MẶT ĐẤT:

MỘT KIỂU “CỐ Ý LÀM TRÁI” ĐỂ ĐỔI MỚI ?

Vào tháng 8/2002, Trung tâm Công nghệ phần mềm Sài Gòn (Sàigon Software Park viết tắt SSP, có trụ sở tại 123 Trương Định quận 3 TPHCM) đã thử nghiệm lắp đặt một trạm mặt đất cỡ nhỏ (VSAT) thu phát Internet qua vệ tinh nhằm phục vụ có hiệu quả cho hoạt động của Trung tâm. Ngày 4/12/2002 Bộ Bưu chính viễn thông (BCVT) đã có công văn yêu cầu SSP dừng hoạt động trạm VSAT nhưng đến nay SSP vẫn tiếp tục triển khai. Sự kiện này được lãnh đạo Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm.

VÌ SAO SSP TỰ Ý LẮP TRẠM VSAT?

SSP là Trung tâm phần mềm đầu tiên của cả nước được Thành uỷ, UBND TPHCM giao trách nhiệm đi đầu trong việc cụ thể hoá nghị quyết TW2 nhằm thí điểm chủ trương đi tắt đón đầu về khoa học công nghệ.. Theo tinh thần đó, các đơn vị thuộc Tổng Cty BCVT phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng các dịch vụ viễn thông và Internet phục vụ cho sản xuất phần mềm cả về chất lượng và giá cả cạnh tranh. Ngày 30/11/2000 Chính phủ có công văn số 1104/CP-KG “giao Tổng cục bưu điện (TCBĐ) và Tcty BCVT Việt Nam chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ kết nối Internet cho SSP tại 123 Trương Định…”. Công văn số 174/TB- VPCP ngày 15/12/2000 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến kết luận của Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo “giao TCBĐ ban hành văn bản hướng dẫn về việc kết nối Internet cho công viên phần mềm Quang Trung và SSP… Giao Tcty BCVT cung cấp dịch vụ Internet (kết nối tới hàng rào) cho SSP tại 123 Trương Định… Xây dựng “tường lửa” riêng ”. Tuy nhiên, các yêu cầu nói trên đều không được đáp ứng một cách đầy đủ.

Trên thực tế, đường truyền Internet của SSP do VDC cung cấp là rất xấu, liên tục tắc nghẽn (kể từ tháng 9/2001 đến nay) gây ảnh hưởng đến việc sản xuất và kinh doanh của các đơn vị phần mềm trong khu công nghệ. SSP đã bỏ lỡ một hợp đồng trị giá 3 triệu USD với đối tác nước ngoài vì không thể thực hiện được. Về giá, mặc dù đã được giảm 50% cho ưu đãi phần mềm nhưng giá của một đường truyền 2MB thuê qua Cty Viễn thông Quốc tế (VTI) vẫn là 39.500 USD/tháng (37.000 USD cho VTI và 2.500 USD trả cho đối tác). Mức giá này là quá cao trong khi đó chi phí của một trạm vệ tinh tốc độ tương đương chỉ phải trả khoảng 7.000 USD. Liên quan đến chất lượng, hiện toàn bộ băng thông Internet của VN là 136MB chỉ đáp ứng được khoảng trên dứới 400.000 người sử dụng nhưng con số người truy cập Internet của VN đến nay là trên 1 triệu người. Tại SSP có 553 lập trình viên, họ có nhu cầu sử dụng Internet thường xuyên, liên tục với chất lượng đảm bảo thông suốt tốc độ truy cập tức thời bởi Internet là công cụ của họ và đối tác của họ là các công ty công nghệ thông tin quốc tế đẳng cấp cao. Nếu SSP cứ phụ thuộc vào một đơn vị cung cấp đường truyền chất lượng kém sẽ không thể có một mô hình khu công nghệ phần mềm hiệu quả.

Với mục đích nâng cao hiệu quả của trung tâm, ngày 18/7/2002 SSP đã gửi tờ trình gửi lên Chính phủ, các ban ngành liên quan và TCBĐ “về việc xin chủ trương thí điểm thiết lập đường kết nối Internet trực tiếp qua vệ tinh phục vụ sản xuất phần mềm tại 123 Trương Định”. Ngày 29/7/2002, Văn phòng chính phủ đã có công văn số 415/VPCP-CN yêu cầu TCBĐ xem xét và có ý kiến chính thức bằng văn bản gửi về VPCP trước ngày 20/8/2002 để báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên TCBĐ đã không trả lời công văn của SSP cũng như công văn 415 của VPCP. Không thể chịu đựng cách làm việc kiểu “rùa” của TCBĐ nên SSP đã chủ động lắp đặt một trạm mặt đất cỡ nhỏ (VSAT, do Bộ Công an nhập từ Mỹ giá trị 60.000 USD), được dùng để kết nối Internet quốc tế không qua kiểm soát của VTI rồi báo cáo lên TCBĐ. Cho đến tận sau khi thành lập Bộ BCVT, ngày 4/12/2002 Bộ mới có văn bản số 57 yêu cầu SSP đình chỉ hoạt động trạm VSAT. SSP cũng đã có công văn phúc đáp số 211 cho Bộ BCVT và đang chờ ý kiến chỉ đạo của Chính phủ về vấn đề này.

PHẢI CHĂNG “CỐ Ý LÀM TRÁI” ĐỂ ĐỔI MỚI?

Liên quan đến vấn đề đảm bảo an ninh thông tin, SSP đã được Chính phủ cho phép xây dựng “bức tường lửa” riêng để đảm bảo việc khai thác các dịch vụ Internet. Sau 2 năm tự quản lý “bức tường lửa” dưới sự hỗ trợ và kiểm soát của các cơ quan hữu quan, việc đảm bảo an ninh thông tin của SSP là hoàn toàn tốt. Nhờ có VSAT đã làm lợi cho các doanh nghiệp do truy cập Internet nhanh, giá rẻ. Tuy nhiên việc SSP tự lắp đặt VSAT khi chưa có giấy phép của Bộ BCVT là việc làm chưa đúng trình tự theo quy định của pháp luật, thể hiện sự bức xúc của doanh nghiệp trước sự trì trệ của ngành BCVT. Theo Nghị định 55/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001 của Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet, chỉ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP) được kết nối Internet quốc tế. SSP không thuộc đối tượng này và chưa được cấp phép mà làm như vậy là trái luật. Tuy nhiên ở đây tình tiết lại không thể coi lá trái pháp luật được, bởi lẽ SSP đã được phép của Chính phủ, TCBĐ và các ngành chức năng cho phép được phép kết nối trực tiếp Internet trước “bức tường lửa” quốc gia và trên thực tế thì SSP đã tự chịu trách nhiệm về mặt an ninh thông tin riêng theo tinh thần văn bản chỉ đạo của Chính phủ nêu trên từ năm 2000. SSP không phụ thuộc trách nhiệm quản lý đối với VTI- VNPT (Tổng cty BCVT). Về thực chất khi SSP chịu trách nhiệm trực tiếp với Bộ công an về mặt an ninh cũng giống như VNPT thì không thể nói rằng SSP không thông qua sự kiểm soát của VTI-VNPT. Oâng Nguyễn Hữu Hiền – Giám đốc SSP nói: “Trong trường hợp này, chúng tôi đã xác định đây là việc làm dũng cảm đầy tự hào trong thời kỳ đổi mới để rút ra bài học kinh nghiệm tự thực tiễn để trình lên lãnh đạo để điều chỉnh chính sách sao cho phù hợp hơn với tình hình nhiệm vụ mới hiện nay. Nếu phải bị coi là phạm pháp thì tôi cũng hết sức thanh thản và tự hào, cũng giống như đồng chí Kim Ngọc đã từng chịu đựng , hy sinh trong đổi mới để Đảng có Khoán 10 vậy”.

Cũng cần nói thêm rằng, tại Việt Nam, ông Nguyễn Hữu Hiền là một người có uy tín trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT). Ngoài chức vụ Giám đốc SSP, ông Hiền còn được mời làm Giám đốc tư vấn dự án Trung tâm công nghệ phần mềm nhiều địa phương như Cần Thơ, Thừa Thiên - Huế, Hải Phòng , Đà Nẵng, Giám đốc tư vấn dự án E-Town của Công ty cổ phần cơ điện lạnh (REE)… Trong tâm trạng đầy bức xúc, ông Nguyễn Hữu Hiền đã thừa nhận với PV báo Pháp Luật: “Chúng tôi biết rõ đây là cố ý làm trái nhưng không phải gây hậu quả nghiêm trọng mà mục tiêu của nó là đem lại kết quả tốt cho tiến trình khắc phục tình trạng tiêu cực, trì trệ ảnh hưởng xấu đến tiền trình phát triển đất nước theo tinh thần đổi mới của Đảng. Hay nói cách khác cố ý làm trái để đổi mới. Muốn đổi mới mà cứ làm theo tiền lệ thì không thể đổi mới được. Là một doanh nghiệp Nhà nước, chúng tôi muốn có sự bình đẳng và công khai trong kinh doanh, nếu bắt buộc phải thuê kênh của VTI chúng tôi muốn được biết tại sao chúng tôi phải trả giá cao như vậy trong khi nếu mua của đối tác chỉ sau 2 tháng không thuê kênh của VTI là chúng tôi đã hoàn được vốn đầu tư thiết bị”.

Bên cạnh đó các quy định của pháp luật về lĩnh vực BCVT còn nhiều bất cập, đã hạn chế sự phát triển ngành CNTT của đất nước. Bởi vậy trong tờ trình ngày 18/7/2002, SSP đã nêu rõ xin chủ trương của Chính phủ và các ban ngành liên quan để điều chỉnh, bổ sung những nội dung văn bản pháp quy cho xác hợp với tốc độ phát triển CNTT và đáp ứng nhu cầu phát triển nền công nghiệp phần mềm của Việt Nam. Nếu không có một cơ chế phù hợp, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng chảy máu chất xám. Xin lấy một ví dụ: Mới đây, tại Singapore, một Cty của Việt Nam là Cty cổ phần Công nghệ thông tin EIS đã chính thức khai trương hệ thống dịch vụ One- connection (OC) trên toàn cầu. Các cuộc gọi điện thoại qua Internet bằng công nghệ OC của EIS hiện nay có giá cước phí rẻ hơn rất nhiều so với cuộc gọi truyền thống vì nó “biến” các cuộc gọi quốc tế thành cuộc gọi nội hạt. Nhiều doanh nghiệp hoạt động trong ngành CNTT từ nhiều nước đánh giá cao hoạt động này của EIS, thế nhưng việc triển khai dịch vụ OC tại thị trường trong nước hiện vẫn còn gặp rào cản về cơ chế. Oâng Hiền tâm sự: “Tôi đã chui vào “hang hùm” để biết những gì chúng tôi cần biết và tất cả những điều ấy chúng tôi đã có tờ trình lên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ rồi. Chúng tôi không phải chỉ muốn có một đường truyền tốt riêng cho SSP mà là muốn có được một hệ thống Internet đảm bảo chất lượng, giá cả cạnh tranh phục vụ cho yêu cầu phát triển của CNTT cả nước vì viễn thông và Internet chính là cơ sở hạ tầng giao thông để vận chuyển trong trao đổi giao lưu mua bán hàng hoá, mà thứ hàng hoá ấy chứa hàm lượng chất xám cao được sản sinh ra từ kinh tế tri thức nó là yếu tố không thể thiếu được trong tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá cho nền kinh tế quốc gia”.

HỒI ÂM CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG

Sau khi bài viết trên đăng trên Báo Pháp Luật số ra ngày 27/2/2003 thì đúng một tháng sau, ngày 27/03/2003 Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký văn bản số 340/CP-CN gửi Bộ Bưu chính viễn thông và các cơ quan chức năng đồng ý cho Trung tâm công nghệ phần mềm Sài Gòn (SSP, 123 Trương Định TPHCM) và Trung tâm công nghệ phần mềm Đà Nẵng làm thí điểm việc thiết lập và quản lý khai thác trạm vệ tinh cỡ nhỏ (VSAT) kết nối Internet phục vụ mục đích chuyên dùng của các trung tâm này, nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ khách hàng, đồng thời phải trực tiếp chịu trách nhiệm đảm bảo các yêu cầu về an ninh thông tin.

Đăng Bình

Sonntag, 22. März 2009

Ngành dầu khí và vấn đề an toàn năng lượng quốc gia

Mối đe dọa chính đối với an ninh năng lượng là khả năng bị thắt chặt nguồn cung ứng một cách bất ngờ khiến giá tăng đột biến, tạo ra cú shock chi phí làm tổn hại, thậm chí tê liệt hoạt động kinh tế cũng như sinh hoạt hàng ngày của đất nước. Vì thế, đảm bảo khả năng sử dụng năng lượng với giá rẻ và ổn định là mục tiêu cốt lõi của chiến lược an ninh năng lượng ở mỗi quốc gia.

Dự trữ dầu và khí đốt dưới lòng đất và biển của Việt Nam là một bảo đảm thiết yếu đối với an ninh năng lượng của đất nước. Trong trường hợp giá dầu nhiên liệu thế giới tăng đột biến như hồi 2007-2008, nguồn thu từ dầu mỏ khai thác được trong nước có thể dùng để trợ giá cho nguồn xăng dầu nhập từ nước ngoài. Tuy nhiên, trữ lượng dầu thô và khí đốt đã được tìm thấy của Việt Nam có vẻ như đang cạn dần.

Nguồn dầu thô của Việt Nam đang cạn dần

Nguồn dầu lửa và khí đốt của Việt Nam tập trung chủ yếu trên biển Đông. Theo số liệu thu thập vào tháng 6, 2007 thì hiện Việt Nam sản xuất khoảng 362 ngàn thùng dầu thô mỗi ngày. So với Việt Nam, sản lượng dầu mỏ do Trung Quốc sản xuất gấp 10,6 lần, do Indonesia sản xuất gấp 3 lần, do Ấn Độ sản xuất gấp 2,3 lần, do Malaysia sản xuất gấp 2 lần. Trong số các nước ASEAN có biển, VN đứng gần với Thái, chỉ trên Brunei và Singapore.

Bắt đầu từ khoảng 2004, sản lượng khai thác được của Việt Nam đã bắt đầu đi theo đà suy giảm rõ rệt. Năm 2004 được 20.35 triệu tấn, năm 2005 giảm xuống còn 18.84 triệu tấn, năm 2006 còn 17.25 triệu tấn và năm 2007 ước lượng chỉ có 16.12 triệu tấn.

Nếu không tìm ra được các nguồn dầu lửa mới, và nếu không tính các nguồn dầu khai thác ở nước ngoài, thì sản lượng dầu mỏ khai thác được của Việt Nam được dự báo sẽ liên tục suy giảm và chỉ còn khoảng 3 triệu tấn/năm vào năm 2025. Nói cách khác, nếu không tìm thấy các nguồn dầu mỏ mới, Việt Nam sẽ gần như cạn kiệt nguồn dầu lửa trong vòng khoảng 15 năm.


Trong khi các nguồn dầu và khí đốt được tìm thấy đang cạn dần, để tìm kiếm các nguồn mới đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện các dự án tìm khiếm và khai thác phức tạp hơn nhiều. Thí dụ, các nguồn dầu chưa được tìm thấy phân bổ chủ yếu ở các vùng nước sâu xa bờ, không thuận tiện về vận chuyển, lại thường xuyên bị Trung Quốc phản đối và tìm cách phá hoại[i].

Việc khai thác nhiên liệu ở vùng Nam Côn Sơn lại gặp phải vấn đề áp xuất cao, nhiệt độ cao, vừa khó giải quyết về mặt kỹ thuật vừa tốn kém. Thêm nữa, các vùng thăm dò – khai thác ở miền Bắc thường có tỉ lệ CO2 rất cao (70-90%) gây ra thách thức lớn về mặt mặt kỹ thuật và môi trường. Có một số vùng có trữ lượng dầu đủ lớn để có ý nghĩa về thương mại, nhưng lại phân bố dưới nền đá granite. Với những vùng này, việc thăm dò và khai thác là đặc biệt phức tạp.

Hiểm họa của an ninh năng lượng có thể đến từ cấu trúc thị trường

Ngoài các nguyên nhân khách quan như khủng hoảng nhiên liệu toàn cầu, một trong những nguồn gốc quan trọng nhất của khủng hoảng năng lượng đến từ cấu trúc thị trường cung cấp năng lượng của quốc gia. Khi cấu trúc thị trường năng lượng bất hợp lý, tình giá năng lượng trong nước tăng cao có thể xảy ra mà không cần các tác động từ bên ngoài.Trường hợp này có thể xảy ra trong các thị trường năng lượng tự do nhưng không được điều tiết tốt, hoặc trong các thị trường năng lượng do nhà nước quản lý.

Trong các thị trường tự do nhưng không được điều tiết tốt, các doanh nghiệp có thể đơn phương hoặc thỏa thuận với nhau để “làm giá”. Công cụ chính của họ là siết chặt nguồn cung, tạo ra khan hiếm năng lượng giả tạo và đẩy giá lên.

Trong các thị trường năng lượng do nhà nước quản lý, nhà nước là người quyết định mức giá cả. Vì thế, bề ngoài thì có vẻ như việc tăng giá vô lý là không thể xảy ra. Tuy nhiên, trên thực tế thì lại khác.

Nhà nước quyết định giá nhưng trên cơ sở chi phí mà các doanh nghiệp báo cáo. Nếu thị trường là thị trường cạnh tranh, các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau nên họ ít có khả năng khai báo chi phí cao bừa bãi. Nhưng nếu thị trường chỉ gồm một vài doanh nghiệp, hoặc cực đoan là chỉ có một doanh nghiệp độc quyền, thì doanh nghiệp này có thể tùy tiện khai báo chi phí kinh doanh. Khi định giá, nhà nước sẽ phải đảm bảo những doanh nghiệp này có mức lợi nhuận nhất định.

Nói cách khác, bằng cách đội chi phí kinh doanh lên, doanh nghiệp có thể buộc nhà nước phải tăng giá xăng dầu trong nước. Vấn đề này tồn tại khá lâu ở Mỹ trong các thập kỷ 60-80. Trong suốt thời kỳ này, chính phủ Mỹ thử nhiều công cụ để xác định giá, nhưng tóm lại là càng quản lý chặt thì giá càng tăng.

Thị trường nhiên liệu của Việt Nam kém hiệu quả

Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PetroVietnam) là công ty độc quyền ở VN trong lĩnh vực kinh doanh dầu khí, bao gồm cả thượng nguồn (khai thác, tinh lọc và bán buôn), hạ nguồn (bán lẻ) và phân phối. Kể từ tháng 1, 2007, PetroVietnam đã trở thành một tập đoàn kinh doanh đa chức năng, bao gồm cả các lĩnh vực như bất động sản, tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, giáo dục, khách sạn, văn phòng, du lịch và các lĩnh vực khác.

Chính phủ Việt Nam quản lý mặt bằng giá trên thị trường năng lượng. Trong những thời điểm nhất định, chính phủ sử dụng ngân sách để hỗ trợ giá. Trong các thời điểm khác, chính phủ có thể tạm thời thả nổi giá năng lượng.

Vì các đặc điểm này, thị trường dầu khí của Việt Nam có thể rơi vào bẫy giá cả của doanh nghiệp khi họ đẩy chi phí lên cao. Để xem thị trường dầu khí của Việt Nam hoạt động hiệu quả đến đâu, chúng tôi thử so sánh mức giá xăng bán lẻ ở Việt Nam và ở Hoa Kỳ trong các năm từ 2002 tới 2008.

Trong suốt thời gian này, chỉ có hồi tháng 3, 2007 là giá xăng ở Hoa Kỳ cao xấp xỉ ở Việt Nam. Với các tháng còn lại, giá xăng ở Hoa Kỳ đều thấp hơn ở Việt Nam. Đặc biệt, vào tháng 11 năm 2008, giá xăng ở Mỹ chỉ có 2,42 USD một gallon trong khi ở Việt Nam là 3,76 USD một gallon -bằng 1,5 lần giá xăng ở Mỹ.

Có thể lý giải mức chênh lệnh này do chênh lệch về chi phí vận tải. Một khối lượng lớn xăng dầu bán lẻ trên thị trường Mỹ được sản xuất từ trong nước. Vì thế, tính trung bình chi phí vận tải trên một gallon có thể rẻ hơn ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo ước tính của David Dapice hồi năm 2002, chi phí vận chuyển xăng dầu từ nước ngoài vào Việt Nam của năm 2002 không thể cao hơn mức 11 USD/ton, có nghĩa là chỉ có 3.5 cents/gallon. Cứ giả sử mức chi phí này tăng gấp đôi tính từ năm 2002, như vậy chi phí vận tải chỉ là 7 cents tính trên một gallon. Trong khi đó, tính trung bình, trênh lệch về giá giữa một gallon xăng A92 ở VN và một gallon xăng A92 ở Mỹ lên tới hơn 40 cents.

Như vậy, mặc dù được nhà nước quản lý về giá, được hỗ trợ giá trong các thời điểm giá nhiên liệu thế giới tăng cao, được ưu đãi về chính sách thuế, giá xăng dầu bán lẻ ở Việt Nam vẫn cao hơn ở Mỹ khoảng 10%.Vì thị trường xăng dầu ở Mỹ là thị trường tự do và không được trợ giá, sự trênh lệch này có thể dẫn tới kết luận rằng thị trường nhiên liệu của Việt Nam hoạt động không mấy hiệu quả.

Chiến lược đầu tư không trên cơ sở hiệu quả kinh tế

Nói đến ngành dầu khí của VN, không thể không nhắc tới dự án lọc dầu Dung Quất. Về mặt chiến lược, có lẽ khi đứng ra quyết định thi hành dự án này, CP đã nhắm tới xây dựng năng lực cung cấp xăng dầu cho thị trường trong nước mà không cần phải phụ thuộc vào việc nhập khẩu từ nước ngoài. Công xuất tối đa của nhà máy này cho phép lọc được 6,5 tấn dầu mỗi năm, đáp ứng được khoảng 33% nhu cầu tiêu dùng trong nước.

Dung Quất sẽ giảm bớt nhu cầu nhập khẩu dầu của Việt Nam, nhưng không giúp Việt Nam tránh được các cú shock về giá trên thị trường thế giới. Hơn nữa, theo khẳng định của ông Đinh Văn Ngọc, phó trưởng ban quản lý dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất thì giá xăng dầu mà nhà máy này bán ra khó có thể thấp hơn giá nhập khẩu.

Và điều này bắt nguồn từ một thực tế được David Dapice nói tới từ hồi năm 2003. Theo tính toán của ông, chi phí để xây dựng nhà máy này quá lớn (1.5 tỉ Mỹ kim hồi năm 2003, hiện nay đã là 3,15 tỉ Mỹ kim) và VN phải đi vay với lãi xuất tương đối cao để xây dựng. Trong khi đó, giá trị gia tăng của một tấn dầu sau khi lọc không cao (khoảng 11 Mỹ kim một cho một tấn).

Với công suất lọc 6,5 triệu tấn một năm, và với giá trị gia tăng là 11 USD/một tấn, Dung Quất chỉ có thể tạo ra được một giá trị gia tăng là 72 triệu USD mỗi năm. Trong khi chi phí cho nhà máy này, bao gồm tiền lãi phải trả hàng năm lên tới 200 triệu Mỹ kim. Như vậy mỗi năm nhà nước phải bù lỗ khoảng 130 triệu USD.

Và đó mới chỉ là con số tiền lỗ dựa theo cách tính của David Dapice khi chi phí cố định của Dung Quất là 1,5 tỉ Mỹ kim. Hiện nay chi phí này đã lên tới 3,15 tỉ Mỹ kim. Số tiền phải bù lỗ hàng năm nếu tính lại sẽ khoảng 280 triệu USD mỗi năm.

Trong khi số liệu nguồn về giá trị gia tăng trên một tấn dầu được lọc mà David Dapice sử dụng có thể không còn đúng tính đến thời điểm này, phép tính sơ lược của ông cũng là một chỉ báo đáng được quan tâm. Cùng với khẳng định của ông Đinh Văn Ngọc về việc Dung Quất không thể bán giá xăng dầu rẻ hơn giá nhập khẩu, có thể khẳng định nhà máy này sẽ không có lãi khi đi vào vận hành.

Như vậy, mặc dù chiến lược đầu tư vào xây dựng năng lực lọc dầu của quốc gia có vẻ như đúng đắn, việc thực hiện nó đã không được như mong đợi. Dự án Dung Quất không phải là dự án hiệu quả xét trên khía cạnh chi phí – lợi ích. Và ảnh hưởng của quyết định thiếu sáng suốt này sẽ lâu dài đối với Việt Nam.

Tóm lại, an ninh năng lượng của Việt Nam đang và sẽ là vấn đề nghiêm trọng cần phải giải quyết. Nguồn dầu thô phát hiện được của VN đang cạn dần. Các nguồn dầu mới nếu có tìm được thì cũng ở trong những địa bàn phức tạp, khó khai thác. Năng lực lọc dầu của VN vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ so với nhu cầu tiêu thụ trong nước và vì thế về dài hạn VN vẫn sẽ phải tiếp tục dựa vào nguồn xăng dầu nhập khẩu. Trong khi đó, những vấn đề như cấu trúc thị trường kém hiệu quả cùng với các chiến lược đầu tư không dựa trên hiệu quả kinh tế sẽ tiếp tục là những gánh nặng cho người tiêu dùng Việt Nam, và cũng là sức cản cho sự phát triển của nền kinh tế VN nói chung.
Dự Trần
Bài đăng lần đầu trên Tuần Việt Nam, Tháng 3, 2009.