- Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)
-
Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.
“Những đôi mắt”
Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị quân Trung Quốc giết chết. Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.
Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.
“Cuộc Chiến 16 Ngày”
Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.
Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.
Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.
Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.
Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.
Lặng Lẽ Hoa Đào
Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1680 ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sỹ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau. Trong số 1600 liệt sỹ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.
Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.
Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sỹ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “ đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.
Osin Blog
Montag, 9. Februar 2009
Bài viết của Huy Đức nhắc lại tháng 17/2/1979
Sonntag, 8. Februar 2009
Buổi tối xem TV có tin 100 người dân ở một xã ven đô, thuộc địa giới Hà Nội, chặn xe cướp gà chờ tiêu hủy vì không rõ nguồn gốc. Thật đáng sợ. Chưa tính tới khía cạnh vệ sinh phòng dịch mà thử nhìn ở góc độ luật pháp, điểm lại trong lịch sử có những lần nào dân chúng tụ tập để cướp của như vậy. Chỉ nhớ được năm 1945, trước nạn đói lịch sử và khi quân Nhật suy yếu, có chuyện người dân (với sự yểm trợ hay lãnh đạo của Việt Minh) cướp phá kho thóc Nhật để chống đói. Sự so sánh tất nhiên là khập khiễng, vì một đằng là con đường chính nghĩa, cướp của quân xâm lược cái mà nó đã tước đoạt của ta, còn một đằng thì...Ngoài ra, còn có trường hợp nào cả trăm người dân rủ nhau đi cướp của chính quyền như thế?
Các cụ nói bần cùng sinh đạo tặc. Người dân ở xã trên chẳng nhẽ đã bần cùng đến mức thành đạo tặc sao? Hẳn là không phải vậy, vì dẫu lạm phát trong nửa năm đầu và khủng hoảng kinh tế trong nửa năm cuối 2008 có làm xói mòn đi phần nào thu nhập của người dân Việt Nam thì cũng chưa tới mức khiến họ rơi vào tình trạng khốn cùng phải đi "cướp" bất chấp pháp luật như thế. Đó không phải sự bần cùng kinh tế, mà là sự bần cùng nhân cách, sự nhởn nhơ coi thường luật pháp và công lý.
Một người dân có thể thành kẻ cướp, điều đó hiểu được. Nhưng 100 người dân tụ tập cướp đường trong thời "thái bình thịnh trị" dưới sự lãnh đạo của một nhà nước luôn tự xưng "của dân, do dân, vì dân" thì thật là không hiểu được. Sự thoái hóa đạo đức trong xã hội đã tới mức khiến người ta nghiễm nhiên cho rằng ăn cướp của Nhà nước không phải là ăn cướp, ăn cắp "của chùa" không phải là ăn cắp. Biết nói làm sao khi ở trên, có những người ăn cắp tiền triệu USD mà vẫn rao giảng chống tham nhũng, thượng tôn pháp luật...Vậy thì ở dưới, những nông dân xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, Hà Nội hồn nhiên rủ nhau đi cướp gà cũng là hợp logic.
Cũng hợp logic như việc cách đây không lâu, người dân Hà Nội hồn nhiên cướp hoa, bẻ hoa cho dù hoa đó là hoa nội của các nghệ nhân Việt Nam được trưng bày ở phố hoa Hồ Gươm hay hoa anh đào do các nghệ nhân Nhật Bản kỳ công vượt biển mang sang...Có gì đâu, vốn ODA Nhật Bản bị các quan xà xẻo thì dân chúng cũng phải tranh thủ ngắt chút ít hoa anh đào ODA Nhật Bản chứ. Có xá gì thể diện quốc gia, tự hào dân tộc, nhân cách con người - những mỹ từ đã bị lợi dụng quá nhiều, bị người ta làm cho trơ tráo và tầm thường hóa không biết từ bao lâu, khiến giờ đây chúng không có giá trị bằng con gà nghi mắc dịch.
chép từ Blog Linh
Samstag, 7. Februar 2009
NGUYỄN VIỆT TIẾN GÂY CHIA RẼ NỘI BỘ
- NGUYỄN VIỆT TIẾN GÂY CHIA RẼ NỘI BỘ
-
Cuộc đối đầu giữa 2 phe trong Đảng hiện nay đang đến độ rất căng thẳng do nguyên nhân từ Nguyễn Việt Tiến. TBT Nông Đức Mạnh đang hậu thuẫn cho việc phục hồi chức vụ hoặc bố trí một chức vụ mới tốt hơn cho ông này. Điều này dẫn đến sự phản đối quyết liệt của CTN Nguyễn Minh Triết. Ông Triết đã chỉ trích thẳng ông Mạnh cùng ông Sang trong một cuộc họp BCT sau Tết và dọa rằng nếu việc đó xảy ra thì sẽ có những hậu quả khó lường.
Nhớ lại vào đầu năm 2006, lúc vụ án PMU-18 nổ ra cũng là lúc mà sự đấu đá tranh giành trước Đại hội X tới hồi quyết định. Vào lúc đó, nhóm miền Nam gồm ông Triết, ông Dũng, ông Sang đang thắng thế và dự định đặt ông Triết vào ghế TBT thay vì CTN. Dự định này được khởi động bằng vụ án PMU-18 bắt Bùi Tiến Dũng để nhắm tới Nguyễn Việt Tiến vì ông Tiến liên quan chặt chẽ với gia đình ông Mạnh. Con gái ông Mạnh làm cho PMU-18, chồng của chị này, tức con rễ ông Mạnh (tên Hải) cũng làm tại đó và là một nhân vật rất quan trọng trong việc củng cố thế lực cho Nguyễn Việt Tiến. Những bê bối của ông Dũng và ông Tiến đã lâu, ai cũng biết, mà cũng chẳng riêng gì PMU-18 hay 2 ông này, những vụ tham nhũng bê bối, ăn chơi xa hoa diễn ra ở hầu hết các quan chức; nhưng vào thời điểm chuẩn bị khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc thì nó được lựa chọn để phanh phui với mục tiêu chính trị là chính chứ không phải chống tham nhũng là chính. Do vậy phe miền Nam lúc đó đã thành công trong việc lôi Bùi Tiến Dũng và sau đó là Nguyễn Việt Tiến vào tù. Điều này đe dọa nghiêm trọng đến cái ghế TBT có thể tái đắc cử cho ông Mạnh. Lúc đó ai cũng nghĩ rằng bước tiếp theo là ông Hải con rễ của TBT cũng sẽ bị bắt. Mà như thế thì chưa cần biết thực sư, đúng sai thế nào, có liên quan gì không thì ông Mạnh cũng sẽ mất uy tín trầm trọng và sẽ phải tự rút lui vì không tự tin là sẽ được tái đắc cử.
Trong lúc tình hình đang thuận lợi như vậy, nhiều người tin rằng ông Triết sẽ nắm ghế TBT sau Đại Hội X thì bất ngờ xảy ra. Không hiểu vì lý do gì mà vào kỳ Hội nghị TW áp chót trước Đại Hội (là kỳ hội nghị quan trọng nhất mang tính quyết định) thì ông Triết chỉ có mặt 1 buổi đầu tiên rồi sau đó bỏ về Tp. HCM. Với thông điệp để lại là không muốn nhận ứng cử vào vị trí TBT. Phe miền Nam hoàn toàn bất ngờ và hơi hẫng. Rất nhiều người không hiểu được lý do vì sao anh Sáu Phong (tức ông Triết) lại bỏ dỡ như vậy. Có một số ý kiến cho rằng vì anh 6 muốn bảo về đàn em, không muốn sự đấu đá sẽ dẫn tới “tàn sát” nhau vì sau vụ PMU-18 nổ ra, ông Mai Ái Trực – một nhân vật thân cậy của anh 6 - lúc đó đang là Bộ Trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, đang từ vị thế sáng giá có thể lên đảm nhận chức phó Thủ tướng sắp tới, thì bị những đe dọa nghiêm trọng về việc lý lịch và có thể bị truất phế. Có nhiều thư tố giác từ Bình Định gửi ra nói rằng ông Trực đã từng khai ra đồng đội trong thời gian bị tù thời trước 1975. Dù sẽ không làm được gì ông Triết và không cản được anh 6 nắm TBT nhưng chắc chắc là phe miền Bắc và ông Mạnh lúc đó cũng sẽ có những trả đũa quyết liệt, dẫn đến những thiệt hại nặng nề. Nên những ý kiến đó cho rằng anh 6 không muốn huynh đệ tương tàn nhau như vậy nên đã âm thầm rút khỏi mục tiêu TBT. Ông Trực sau đó cũng tuyên bố rút lui, không tiếp tục ứng cử vào TW Đảng.
Việc rút lui của anh 6 sau đó dẫn đến một sự thỏa hiệp với ông Mạnh và phe cánh miền Bắc. ông Mạnh vẫn làm TBT nhưng ông Sang sẽ kè sát ông Mạnh làm Thường trực Ban Bí Thư, ông Dũng làm Thủ tướng với những quyền lực được mở rộng hơn nhiều trước đây. Ông Triết làm Chủ tịch nước với những quyền hạn đúng như Hiến Pháp qui định mà không phải lúc nào cũng phải thông qua BCT. Kết quả Đại Hội X cuối cùng đã diễn ra như thế.
Chắc rằng ông Mạnh đã rất uất hận sau cái “deal” này, dù phải chấp nhận nhưng vẫn nuôi dưỡng những kế hoạch trả đủa. Cuối cùng ông ấy đã gặp thời khi ông Sang mâu thuẫn với ông Dũng và tách khỏi nhóm ông Triết để thêm sức mạnh cho ông Mạnh. Hiện nay thế lực của ông Mạnh và ông Sang rất mạnh. Hội nghị TW vừa rồi lại được bổ sung thêm 1 nhân vật là Tô Huy Rứa vào BCT. Ông Rứa này là phe ông Sang và ông Mạnh làm cho phe này chiếm đa số trong BCT. Trong khi đó ông Dũng và ông Triết đã thất bại trong việc đưa Nguyễn Thiện Nhân vào BCT.
Kế từ khi ông Sang về phe ông Mạnh, kế hoạch phục hồi cho Nguyễn Việt Tiến được bắt đầu. Việc không đưa ông Tiến ra xét xử để nhằm hạ uy tín của ông Dũng, người đã hô hào lớn tiến chống tham nhũng thông qua vụ án PMU-18, và để tăng thêm đối thủ của ông Dũng. Cho dù sau đó ông Dũng dùng hết quyền hạn của mình để tiến hành kỷ luật Nguyễn Việt Tiến để chứng minh với công luận quyết tâm chống tham nhũng của mình, nhưng việc này cũng không cản nổi kế hoạch đưa ông Tiến trở lại quyền lực của ông Mạnh và ông Sang. Do vậy việc này phải nhờ đến anh 6. Anh 6 đã chính thức phản đối việc này nhưng tình hình vẫn chưa có dấu hiệu gì là ông Tiến đang bị cản trở trong việc trở lại chính trường.
Chưa thể đoán được diễn tiến sắp tới sẽ ra sao. Nhưng chưa bao giờ người ta thấy ông Mạnh mạnh và đắc thắng như bây giờ. Người ta cũng chưa bao giờ thấy ông ấy có được những nước cờ khôn ngoan về chính sách và đường lối phát triển đất nước tốt đẹp, nhưng lần này thì mọi ngượi lại ngạc nhiên với khả năng thủ đoạn trong đấu đá của ông ấy. (còn tiếp)
- CHANGE BLOG
Freitag, 6. Februar 2009
Tăng trưởng và cái giá của môi trường
Một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của dư luận trong năm 2008 là thảm hoạ môi trường. Thật vậy, chưa bao giờ vấn đề môi trường trở thành tâm điểm được đông đảo công chúng quan tâm như lúc này. Ngoài những trận lũ lụt kỷ lục do thiên nhiên gây ra (thực ra nguyên nhân sâu xa cũng là do con người), thì không ít thảm hoạ môi trường lại do chúng ta đã và đang trực tiếp tạo ra. Chính vì vậy mà mối quan hệ giữa tăng trưởng và cái giá của môi trường là vấn đề cần được chúng ta quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển.
Bài toán môi trường - được và mất
Việc quyết định cho Vedan tồn tại và tiếp tục sản xuất với “lý do nhân đạo” có liên quan đến công ăn việc làm của hàng ngàn công nhân trực tiếp sản xuất và người dân đang trồng sắn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy của Vedan, chắc chắn các nhà quản lý tầm vĩ mô chưa tính được những cái được và mất từ quyết định nhẹ tay này.
Thật vậy, nếu thử tính cái được từ thu nhập của vài ngàn công nhân và người trồng sắn cộng với cái được từ tiền thuế của Vedan và những cái mất do môi trường bị hủy hoại, mất nguồn tài nguyên nước sạch cung cấp cho sản xuất và đời sống, mất nguồn tài nguyên sinh vật tự nhiên, mất nguồn lợi nuôi trồng thủy sản và liên quan đến mất công ăn việc làm của hàng vạn hộ dân sống bằng nghề nuôi trồng thủy sản dọc theo lưu vực sông và cái mất lớn hơn nhiều đó là sức khỏe cộng đồng hàng triệu người bị ảnh hưởng do ô nhiễm nguồn nước thì không khó để thấy những cái mất là quá lớn so với cái được.
Đó là chưa nói đến những cái mất do người dân phá rừng trồng sắn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy của Vedan. Sẽ không ai phản đối cái lợi nhỏ trước mắt của trồng sắn là xóa đói cho một bộ phận người dân, nhưng chắc chắn cái lợi này chẳng thấm vào đâu so với cái hại của việc phá rừng trồng sắn, cái hại nhỡn tiền của việc phá rừng không những gây hậu quả môi trường lớn mà còn làm mất nguồn lợi tự nhiên mà rừng mang lại. Thật vậy, ngoài lợi ích môi trường mà rừng mang lại như giữ nước mưa, chống lũ lụt, chống xói mòn vv.. mỗi năm rừng có thể cho thu nhập khoảng 2.500 USD từ nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Ở Indonesia Nhà nước phải vay đến 3,5 tỷ USD của Ngân hàng Á Châu để làm sạch sông Citarum. Ở Châu Âu, trong vòng 30 năm từ năm 1972 đến năm 2000 nước Đức và châu Âu đã phải chi nhiều chục tỷ USD để làm sạch và phục hồi trạng thái ban đầu của sông Rhein. Còn ở Trung Quốc, sau 20 năm tăng trưởng kinh tế một cách ấn tượng, nhưng nay cũng đang đối mặt với các vấn đề môi trường, đến mức năm 2006 Chính phủ đã thông qua một kế hoạch tốn kém chi tới 175 tỷ USD, tương đương khoảng 1,5% GDP để khắc phục ô nhiễm nguồn nước, không khí tại các thành phố và ngăn chặn nạn xói mòn tài nguyên đất.
Như vậy, chắc chắn còn lâu chúng ta mới tính hết được các thiệt hại mà Vedan gây ra cho môi trường và sức khỏe cộng đồng. Để phục hồi trạng thái ban đầu sẽ cần số tiền vô cùng tốn kém và cần thời gian lâu dài, có khi tính bằng cả thế hệ. Một vài bài học gần đây ở một số nước cho thấy cái giá của môi trường không hề rẻ chút nào. Ví dụ như ở Indonesia nhà nước phải vay đến 3,5 tỷ USD của Ngân hàng Á Châu để làm sạch sông Citarum. Ở Châu Âu, trong vòng 30 năm từ năm 1972 đến năm 2000 nước Đức và châu Âu đã phải chi nhiều chục tỷ USD để làm sạch và phục hồi trạng thái ban đầu của sông Rhein. Còn ở Trung Quốc, sau 20 năm tăng trưởng kinh tế một cách ấn tượng, nhưng nay cũng đang đối mặt với các vấn đề môi trường, đến mức năm 2006 Chính phủ đã thông qua một kế hoạch tốn kém chi tới 175 tỷ USD, tương đương khoảng 1,5% GDP để khắc phục ô nhiễm nguồn nước, không khí tại các thành phố và ngăn chặn nạn xói mòn tài nguyên đất.
Khi Việt
Vì vậy các nhà quản lý cần đủ khôn ngoan và tỉnh táo để nhận biết các hậu quả môi trường khi mà Việt Nam đang hào hứng với hàng loạt dự án đầu tư là những lĩnh vực gây ô nhiễm môi trường như sản xuất chế biến công nghiêp như luyện sắt thép, sản xuất nhôm, sản xuất giấy, hóa chất, chế biến thực phẩm, v.v. Đây là những ngành sản xuất không những cần nhiều lao động mà còn tiêu thụ nhiều năng lượng, nhiều nước và gây tổn hại lớn đến môi trường mà nhiều nước mới công nghiệp hoá không khuyến khích duy trì những lĩnh vực này ở chính quốc.
Khái niệm tăng trưởng mới theo GDP xanh
Gần đây nhiều nước, trong đó Trung Quốc là một trong những quốc gia tiên phong đã đưa ra khái niệm "GDP xanh" là hệ thống đánh giá GDP theo tiêu chuẩn mới trong đó số liệu thống kê GDP thông thường được chỉnh lý bằng cách khấu trừ chi phí về môi trường trong các hoạt động kinh tế. Cụ thể là: GDP xanh = GDP - chi phí tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế.
Lần đầu tiên, Hội thảo quốc tế về GDP xanh đã được tổ chức lại Bắc Kinh, Trung Quốc trong tháng 6/2004, với sự tham gia của chuyên gia kinh tế nhiều nước nhằm chính thức xác lập hệ thống thống kê theo tiêu chí GDP xanh này. Mặc dù việc thực hiện GDP xanh hiện tại còn một số khó khăn về kỹ thuật như việc xác định giá trị của các yếu tố môi trường. Tuy nhiên các chuyên gia đã đưa ra một số cách ước tính cho vấn đề này. Mặc dù không tính được mất mát khi một con sông bị ô nhiễm, nhưng chúng ta có thể tính được số tiền cần thiết phải chi tiêu để xử lý nó thông qua chi phí môi trường của một dự án xử lý làm sạch môi trường cụ thể. Chẳng hạn ở Vân Nam Trung Quốc, các nhà máy hoá chất và việc khai thác trang trại đã gây ô nhiễm nghiêm trọng cho hồ Dianchi. Nếu cố gắng làm sạch hồ, chi phí tốn gấp 10 lần lợi nhuận các nhà sản xuất hoá chất và nông dân tạo ra. Ước tính theo cách này có thể kết luận rằng các hoạt động kinh tế quanh hồ đã gây ra những tổn thất lớn, chưa tính đến mất đi các loại cá và các cây trong hồ và sự thay đổi khí hậu ở địa bàn xung quanh. Các cách ước tính như vậy cần hoàn thiện thêm trong thực tế.
Tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển của một vùng sẽ thay đổi khi thực hiện tính GDP xanh. Trước đây sự tăng trưởng thuần tuý về kinh tế là tiêu chuẩn duy nhất đánh giá thành tựu kinh tế. Còn GDP xanh sẽ đánh giá toàn diện các mặt tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Số liệu thống kê theo tiêu chí GDP xanh, vì vậy chắc chắn không chỉ phản ánh thực chất sự tăng trưởng của kinh tế mà còn chỉ ra các tổn thất môi trường mà sự tăng trưởng kinh tế có thể gây ra.
Bảo vệ môi trường cần hệ thống luật pháp đủ mạnh và minh bạch
Quay lại câu chuyện Vedan để thấy răng Luật môi trường của ta còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục được hoàn thiện. Nếu chỉ căn cứ Luật bảo vệ môi trường hiện tại và nghị định 81 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính để xử Vedan thì chưa đủ, vì Luật môi trường của ta chỉ mang tính chất xử phạt hành chính và mức xử phạt cùng còn quá nhẹ. Hầu hết luật môi trường ở các nước phát triển qui định rất rõ đối với người vi phạm là ngoài những chế tài xử phạt, người gây hậu quả môi trường còn phải “chịu trách nhiệm tái tạo môi trường như tình trạng trước khi có hành vi vi phạm”. Luật của ta cũng có điều khoản “khắc phục hậu quả”, nhưng khắc phục đến đâu và như thế nào thì lại không quy định cụ thể.
Là một doanh nghiệp kinh tế, nên ngoài luật môi trường, rõ ràng Vedan còn phải chịu điều chỉnh bởi các luật khác như Luật đầu tư và cả Luật hình sự nữa. Trong trường hợp doanh nghiệp không tuân thủ luật pháp hiện hành ở Việt
Ngoài ra, nếu ở nước ngoài chắc chắn Vedan còn bị kết tội vi phạm Luật cạnh tranh do hành vi cố tình tạo lợi thế cạnh tranh bằng việc xả chất thải không qua hệ thống lọc để giảm chi phí sản xuất nhằm tạo lợi thế cạnh tranh. Tiếc là Luật cạnh tranh của ta chưa có quy định này, chứ nếu có như ở các nước thì có thể áp dụng hình phạt này cũng đủ để kết tội rất nặng Vedan mà không cần các thủ tục phức tạp nào khác nữa.
Đã đến lúc cần phải xem xét, bổ sung và hoàn thiện toàn bộ Luật bảo vệ môi trường, cần hoàn chỉnh hệ thống các tiêu chuẩn về môi trường và nâng các tiêu chuẩn này lên mức ngang với tiêu chuẩn của các nước công nghiệp mới, để Luật môi trường của ta không những đủ sức răn đe mà cần phải tương hợp với Luật môi trường quốc tế.
Qua vụ việc Vedan cũng cho thấy hệ thống tiêu chuẩn môi trường của VN hiện nay rõ ràng vừa thiếu, vừa thấp, hàng loạt chỉ tiêu môi trường có liên quan đến chất lượng nguồn nước, khí và sức khoẻ cộng đồng đã không được xác lập. Hàng loạt quy định về đánh giá chất lượng nguồn nước trước và sau khi nhà máy hoạt động cũng không được cập nhật rõ ràng và minh bạch. Khi xảy ra sự cố, thay bằng các bằng chứng chỉ ra chất lượng nguồn nước thải chúng ta phải mai phục, tìm kiếm các bằng chứng ẩn sâu trong lòng đất hoặc dưới tầng nước sâu vừa vất vả, tốn kém lại ít thuyết phục hơn so với các chỉ tiêu chất lượng nguồn nước được thiết bị do đạc trực tiếp. Vì vậy, đã đến lúc cần phải xem xét, bổ sung và hoàn thiện toàn bộ Luật bảo vệ môi trường, cần hoàn chỉnh hệ thống các tiêu chuẩn về môi trường và nâng các tiêu chuẩn này lên mức ngang với tiêu chuẩn của các nước công nghiệp mới, để Luật môi trường của ta không những đủ sức răn đe mà cần phải tương hợp với Luật môi trường quốc tế. Để giải quyết triệt để vấn đề Môi trường thì ngoài luật môi trường cũng cần bổ sung hoàn thiện các Luật khác có liên quan đến môi trường như luật cạnh tranh, luật đầu tư và cả luật hình sự nữa. Luật hình sự có thể cho phép bất cứ công dân hay hiệp hội, không nhất thiết là người bị hại trực tiếp, khởi kiện các hành vi hủy hoại môi trường.
Tóm lại, môi trường là tài sản quý giá nhất của quốc gia, môi trường sạch đẹp không những duy trì cuộc sống tốt cho chúng ta hôm nay mà nó còn là di sản vô giá để lại cho các thế hệ mai sau. Mọi hành vi huỷ hoại môi trường, đặc biệt là trục lợi cá nhân hoặc nhóm lợi ích nào đó cũng cần phải lên án và ngăn chặn. Để làm được điều này hệ thống luật pháp về môi trường phải đủ mạnh và đủ sức răn đe bất kỳ ai dù vô tình hay cố ý huỷ hoại môi trường.