Samstag, 14. Februar 2009

Qủa bom bùn nặng 20 triệu tấn từ Tây nguyên

Khai thác Bauxit ở Tây Nguyên: “Bom bùn” 20 triệu tấn bị đặt ngoài vòng kiểm soát
Mặt bằng và hồ chứa bùn thải nhà máy Alumin Nhân Cơ (Đăk Nông) đang được TKV gấp rút triển khai

“Quả bom bùn” nặng 20 triệu tấn

Toàn tỉnh Đăk Nông có 13 mỏ Bauxit, trải đều trên địa bàn các huyện nằm ở thượng nguồn 2 hệ thống sông lớn là Srepok (gồm các nhánh Krông Bông, Krông Păk, Krông Ana, Krông Nô - đổ vào dòng chính sông Mê Kông) và Đồng Nai (gồm các nhánh chính là Đăk Huýt, Đăk Glun, Đăk Rtit, Đăk Nông - đổ vào sông Đồng Nai). Phần diện tích sông Srepok trên địa bàn Đăk Nông là 3.583 km2 (chiếm 50% diện tích toàn tỉnh), sông Đồng Nai là 2.934,4 km2 (chiếm 45% diện tích tỉnh). Thượng nguồn của cả 2 hệ thống sông này đều có địa hình thuận lợi, tạo thành các hồ chứa bùn.

Theo các nhà khoa học Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, các D.A khai thác đều cần đến những diện tích đất rất lớn làm bãi thải bùn. Kết quả tính toán cho thấy, để chế biến được 1 tấn Alumin từ Bauxit, các nhà máy phải thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ. Cứ mỗi năm trong giai đoạn 2007 - 2015 (thực hiện theo quy hoạch), các D.A ở Tây Nguyên sẽ sản xuất 6,6 triệu tấn Alumin và lượng bùn đỏ (gấp 3 lần sản lượng chế biến) là 20 triệu tấn. Các hồ chứa quá mong manh trước biến cố thiên tai như lụt, lũ quét… là nguyên nhân dẫn đến thảm họa môi trường trong tương lai! “Quả bom bùn” nặng 20 triệu tấn lúc nào cũng sẵn sàng “nổ tung”, san phẳng một vùng đồng bằng rộng lớn. Thảm họa sẽ khủng khiếp hơn khi hạ lưu sông Đồng Nai và các dòng chảy đổ vào sông Mê Kông bị bùn đỏ vùi lấp.

“Bom bùn” bị đặt ngoài quy hoạch đã được phê duyệt

Một trong những D.A khai thác Bauxit đầu tiên được triển khai ở tỉnh Đăk Nông là Nhà máy Alumin Nhân Cơ. Tại công trường thi công, chúng tôi được ông Nguyễn Phú Dương, Phó Tổng Giám đốc Cty Cổ phần Alumin Nhân Cơ thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết, diện tích hồ chứa bùn đỏ là 200 ha, gấp 3 lần diện tích mặt bằng nhà máy. Hồ chứa bùn chỉ có “1 cửa” để tránh bị vỡ do biến cố thiên tai. Với tư cách nhà đầu tư, ông Dương nêu ra các yếu tố an toàn khác như toàn bộ diện tích 200 ha đáy hồ được nện đất sét và lót bạt chóng thấm…

Có điều, những giải pháp này của ông Dương và của cả lãnh đạo TKV không những không thuyết phục được giới khoa học mà trái lại, còn bị phản bác quyết liệt. Ý kiến phản bác gay gắt nhất về khai thác Bauxit ở Tây Nguyên thật trớ trêu lại đến từ TS Nguyễn Thành Sơn của chính TKV. Theo ông Sơn: “Chỉ riêng D.A của Cty Cổ phần Nhân Cơ, phần đuôi quặng nước thải và bùn đỏ có khối lượng hơn 11 triệu tấn/năm. Dung tích hồ thải bùn đỏ 15 năm là 8.754.780m3. Tổng lượng bùn thải vào hồ là 1.733 tấn/ngày. Lượng nước thải phải bơm đi từ hồ là 5.959.212m3/năm. Với quy mô như vậy, thiệt hại do vỡ đập là không thể kiểm soát được và nguy cơ vỡ đập không thể lường trước. Một D.A khác ở Tân Rai (Lâm Đồng) có khối lượng bùn đỏ thải ra môi trường là 826.944m3/năm. Khối lượng quặng Bauxit khai thác của D.A này lên đến 2,23 triệu m3/năm dẫn đến nguy cơ tổng lượng bùn đỏ phải tích tụ thường xuyên trên cao nguyên Lâm Đồng là 80 - 90 triệu m3 (trong khi tổng dung tích hồ chứa của D.A chỉ có 20 - 25 triệu m3)…”.

Đưa ra các số liệu như thế nhưng TS Nguyễn Thành Sơn và phần lớn các nhà khoa học tên tuổi đều thật sự lúng túng trong việc đưa ra giải pháp hữu hiệu chế ngự “bom bùn”… Ông Sơn thậm chí còn dẫn chứng một số quốc gia như như Pháp, Áo phải xử lý vấn đề bùn đỏ bằng cách rẻ tiền là đổ ra khu vực gần biển! Sự lúng túng của các nhà khoa học Việt Nam hoàn toàn có cơ sở khi chính họ đang rất hoài nghi về thiện chí cùng khả năng tài chính của TKV. Chi phí cho việc “chôn cất” vĩnh viễn bùn đỏ bằng công nghệ tiên tiến lên đến hàng trăm triệu USD (cho một D.A khai thác diện tích vài chục ha) trong khi đó thì báo cáo và cam kết của chủ đầu tư TKV lại không dành trọng tâm cho vấn đề quan trọng bậc nhất này.

Trong Quyết định số 167/2007/QĐ - TTg (phê duyệt quy hoạch phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng quặng Bauxit giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025) Thủ tướng đã yêu cầu: “Xây dựng, phát triển công nghiệp khai thác, chế biến quặng Bauxit bằng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, phải bảo đảm phát triển hài hòa kinh tế - xã hội khu vực Tây Nguyên và các địa phương liên quan”. Rõ ràng, sự đầu tư “nóng” của TKV trong khai thác quặng Bauxit đang đặt “quả bom bùn” nặng 20 triệu tấn ra ngoài ý kiến chỉ đạo phê duyệt quy hoạch!

báo Thanh Tra

Aluminum



Các nhà khoa học, Tập đoàn Than và Khoáng sản, cũng như tỉnh Đắk Nông đang thảo luận về đại dự án khai thác bô - xít ở Tây Nguyên. TS. Nguyễn Thành Sơn đã cung cấp cho cuộc thảo luận thêm một bức tranh tổng thể về lịch sử và xu hướng phát triển của ngành công nghiệp này trên thế giới.

>> Bài 1: Đại kế hoạch bô - xít ở Tây Nguyên bị phản đối quyết liệt
>> Bài 2: Nguy cơ hiện hữu trong các dự án bô - xít trên Tây Nguyên
>> Bài 3: Đại dự án bô - xít Tây Nguyên: người trong cuộc đề xuất gì?

Dân Ấn Độ ở Niyamgiri cho thấy khai thác bô - xít không mang lại việc làm
cho họ (ảnh: Savingiceland)

Lịch sử ngành nhôm

Theo truyền thuyết, một kim loại gì đó giống như nhôm đã được nhắc đến từ thế kỷ đầu tiên của Công nguyên. Một người thợ dâng cho hoàng đế Tibery một cục kim loại mầu bạc đẹp, nhẹ và tâu rằng mình đã tự làm từ đất sét. Thay vì ban thưởng, hoàng đế đã ra lệnh chặt đầu người thợ và phá hủy toàn bộ xưởng, để thủ tiêu phương tiện có thể làm giảm giá trị vàng bạc của hoàng đế.

Thế kỷ 16, Parasel đã làm ra được kim loại (nhôm) từ bùn đất. Thế kỷ 18, nhà hóa học Andreas Marggraf người Đức đã điều chế được một kim loại “alumen” (nghĩa là “mềm dẻo” theo tiếng La tinh). Từ đó, “alumen” được coi là tên cúng cơm đầu tiên của nhôm.

Năm 1808, Humphry Davy người Anh đã thu được “alumen” bằng phương pháp điện phân.

Năm 1825, kỹ sư Hans Christian Orsted người Đan Mạch đã cho clo đi qua hỗn hợp của alumina với than, sau đó đem nung với kali và thu được nhôm. Kết quả thí nghiệm đó được công bố trên một tạp chí không mấy nổi tiếng, đã làm cho Friedrich Wöhler người Đức tiêu phí 18 năm (cũng bằng cách của Hans) để thu được nhôm dạng miếng.

Đến năm 1854, nhà hóa học người Pháp Henri Saint-Claire Deville đã sáng chế ra phương pháp điều chế nhôm rẻ tiền hơn. Năm 1855, tại thủ đô Paris đã có cuộc hội thảo nổi tiếng mang tên “Bạc từ đất sét”. Hoàng đế Napoleon III đã tham dự và được Deville trao tặng một phẩm vật bằng nhôm. Mơ ước trang bị cho quân đội những chiếc mũ bằng kim loại nhẹ, Napoleon đã ủng hộ hết mình để Deville xây dựng các xưởng luyện nhôm. Nhưng sản phẩm của Deville có giá thành quá đắt, thay vì đặt trên đầu các chàng lính chiến của Napoleon, lại trở thành đồ trang sức trên cổ của các quý bà nhiều tiền.

Mãi đến cuối thế kỷ 19, nhôm rẻ tiền mới ra lò nhờ nỗ lực của sinh viên Charles Hall người Mỹ và kỹ sư Paul Héroult người Pháp. Phương pháp điều chế nhôm bằng điện phân của hai người tốn quá nhiều điện nên nhà máy luyện nhôm đầu tiên đã phải đặt ngay cạnh nhà máy thủy điện Reisk của Thụy Sỹ.

Niềm tự hào thuộc về người Nga khi công nghiệp nhôm của thế giới gắn liền với tên của một kỹ sư Nga gốc Áo là Carl Josef Bayer. Quy trình sản xuất alumina mang tên Bayer (cùng với Holl Eru) đã và đang được áp dụng đến ngày nay để thu được nhôm gần như nguyên chất: nhẹ, rẻ, nhưng mềm và không bền.

Tên của Bayer chắc cũng “bay hơi” nếu không nhờ nhà hóa học người Đức Alfred Wilm nghĩ ra cách trộn nhôm với đồng, ma nhê, và măng gan để thu được một kim loại vừa nhẹ lại vừa bền. Năm 1911, tại một thành phố nhỏ của Đức có tên Diura, mẻ hợp kim của nhôm ra đời, từ đó có tên như chúng ta gọi là đuyra. Nhờ có “Diura”, năm 1919 chiếc máy bay đầu tiên của loài người đã ra đời và cất cánh.

Trong bảng tuần hoàn của Menđêlêép, nhôm có vị trí không mấy “đẹp” (nguyên tố thứ 13), nhưng nhôm chiếm 7,45% trọng lượng của vỏ trái đất và đứng thứ ba về khối lượng của hành tinh, chỉ sau ô xy và cremnhi. Vì tính phổ biến, không có quốc gia nào coi bô - xít là tài nguyên chiến lược như than, dầu, khí, uranium. Do có thể thay thế, nhôm cũng không phải là kim loại quý hiếm như vàng, bạc, đồng, chì, kẽm, titan, vonfram…

Tuy có rất nhiều công dụng, nhôm chưa bao giờ được coi là kim loại chiến
lược. (ảnh: Hydro Aluminum)

Ba yếu tố làm tăng nhu cầu nhôm của thế giới

Yếu tố thứ nhất: Trung Quốc hiện đang tiêu dùng ¼ sản lượng nhôm của thế giới. Ngành xe hơi của TQ từ nay đến năm 2011dự báo tăng trưởng 7-14%/năm. Năm 2007, lĩnh vực xây dựng đã tiêu dùng tới 12% sản lượng nhôm. Trong 8 năm tới, mức tăng dân số cơ học của thành thị TQ bình quân khoảng 16 triệu người/năm. Những yếu tố đó sẽ biến TQ thành nước tiêu dùng nhôm hàng đầu thế giới (chiếm 36%) vào năm 2010.

Yếu tố thứ hai: do nhu cầu giảm phát thải, các nước công nghiệp sẽ có nhu cầu gia tăng kim loại nhẹ. Trong lĩnh vực xe hơi, bình quân 1 kg nhôm thay thế kim loại nặng khác sẽ giảm tiêu hao 8,5 lít xăng, và giảm 20kg chất phát thải. Nếu trọng lượng của xe giảm 10% sẽ cho phép tăng 9% hiệu suất sử dụng nhiên liệu.

Yếu tố thứ ba: việc tăng giá của các kim loại quý như chì, đồng làm tăng nhu cầu nhôm trong các lĩnh vực như điện, vận tải, đóng tàu, xây dựng…

Tuy nhiên, thực tế không đơn giản là cứ có nhu cầu cao, sẽ có lợi nhuận cao.

Hiện tại của những cạnh tranh khốc liệt

Trong lịch sử tồn tại gần 1,5 thế kỷ, nhôm mới kịp đi được đoạn đường từ trang sức đến vật liệu không chiến lược. Tuy vậy, ngành nhôm của thế giới có rất nhiều điểm mất cân đối và mâu thuẫn dẫn đến cạnh tranh khốc liệt.

Trước hết, mâu thuẫn về phân bố tài nguyên: quặng bô - xít phần lớn được tạo thành do quá trình phong hoá lâu dài trong các điều kiện khí hậu nóng ẩm. Vì vậy, hơn 90% trữ lượng bô - xít của thế giới tập trung ở 18 nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các nước công nghiệp phát triển, có nhu cầu tiêu thụ lớn, lại nằm ở những vùng khí hậu hoàn toàn khác.

Thứ hai, mâu thuẫn giữa “tiềm năng được dự báo” với “trữ lượng được xác định thực sự”. 2/3 tiềm năng bô - xít của thế giới nằm ở 6 nước: Guinea (20 tỷ tấn); Úc (7 tỷ); Brazil (6 tỷ); Việt Nam (3 tỷ); Ấn Độ (2,5 tỷ); và Indonesia (2 tỷ). Trong khi đó, 65% trữ lượng đã được khẳng định của thế giới nằm ở 6 nước: Guinea (21%); Brazil (15%); Australia (11%); Jamaica (7%), Camerun (6%); và Mali (4,5%).

Việt Nam chưa có tên trên bản đồ trữ lượng bô - xít thế giới, vì mới chỉ có hai địa điểm được xác định “trữ lượng có thể khai thác” là mỏ 1 tháng 5 và Gia Nghĩa. Phần lớn các khu vực còn lại mới chỉ được đánh giá trên cơ sở một số báo cáo địa chất còn nhiều mâu thuẫn, chưa được thăm dò đánh giá theo chuẩn mực của thế giới cũng như của VN.

Thứ ba: mâu thuẫn giữa phân bổ lực lượng sản xuất với hình thức sở hữu. Mười nước có sản lượng alumina lớn nhất thế giới gồm: Australia (45 triệu tấn), Guinea (17), Jamaica (13), Brazil (12), Trung Quốc (9), Ấn Độ (6), Venezuela (5), Surinam (4), Russia (4), Kazachstan (4). Nhưng mười đại gia nhôm của thế giới lại không trùng với mười nước có sản lượng lớn nhất.

10 tập đoàn sản xuất nhôm hàng đầu thế giới

Các tập đoàn đại gia về nhôm chính là hiện thân của sự cạnh tranh trong ngành nhôm thế giới. 10 tập đoàn nhôm hàng đầu thế giới không nhất thiết là của 10 nước có sản lượng lớn nhất thế giới.

10 tập đoàn nhôm lớn nhất thế giới, lần lượt là của Nga, Mỹ, Canada, Trung Quốc,
Áo, Anh… (nguồn: aluminumleader.com)

Điểm nổi bật của các tập đoàn này có thể tóm gọn như sau: (1) Các đại gia này đều là những tập đoàn có mối liên kết từ khai thác bô - xít đến luyện nhôm và sản xuất ra sản phẩm như giấy nhôm cho các bà nội trợ, vỏ hộp bia, hay giấy gói viên Viagra…; (2) Họ trở thành đại gia chủ yếu bằng con đường sáp nhập, thâu tóm; (3) Họ đang nắm giữ gần như toàn bộ trữ lượng bô - xít tốt (có hàm lượng trên 50%) của thế giới; (4) Năng lực sản xuất của các đại gia còn nhiều mặt mất cân đối, khả năng tiếp tục “thâu tóm” lẫn nhau vẫn còn bỏ ngỏ.

Ba xu thế phát triển của các tập đoàn nhôm

Xu thế thứ nhất- sáp nhập các công ty nhỏ: Tập đoàn UC Rusal của Nga năm 2007 đã thâu tóm cổ phần của 3 công ty Rusal, Sual, và Glencore để nắm giữ trữ lượng bô - xít lớn nhất, khoảng 3,3 tỷ tấn.
Đứng thứ nhì, Rio Tinto có trong tay 3,29 tỷ tấn. Trong khu vực Châu Á, Chalco của TQ đứng thứ 4 với 1,92 tỷ tấn. Hai công ty của Mỹ và Canada, đứng thứ 2 và thứ 3 về sản xuất alumina, nhưng chỉ nắm giữ lần lượt 1,89 và 0,38 tỷ tấn trữ lượng bô - xít. Năm 2007, Rio Tinto đã muốn mua Alcan nhưng chưa thành. Năm 2004 Alcan đã nuốt chửng Pechiney của Pháp nên họ chắc đã có kinh nghiệm để từ chối “củ cà rốt” của Rio Tinto.

Alcoa của Mỹ thường xuyên có mặt trên các thị trường chứng khoán như một đối tác đầy tiềm năng của các vụ mua bán, sáp nhập và sẵn sàng nuốt chửng bất cứ đối thủ nào.

Bên cạnh VN, tập đoàn Chalco của TQ, như một mãnh hổ cũng đang chờ đợi hàng trăm công ty nhỏ thời gian tới sẽ phải co cụm, sáp nhập lại với nhau, hoặc lần lượt bước qua miệng hổ.

Xu thế thứ hai- đẩy ra xa các rủi ro: Trước đây, việc khai thác bô - xít thực hiện ở các nước có trữ lượng, sản xuất alumina và luyện nhôm ở các nước phát triển để tránh rủi ro về chính trị. Ngày nay, khai thác, tuyển bô - xít, sản xuất alumina, luyện nhôm đều ở các nước nghèo, vừa tranh thủ nguồn điện rẻ của các nước này, vừa để các nước giàu tránh được ô nhiễm.

Trong 18 tháng qua, Tây Âu phải đóng cửa và di chuyển ra ngoài biên giới các nhà máy có tổng công suất lên tới 354.000 tấn nhôm/năm. Trong vòng 1,5 năm tới, ở châu Âu sẽ đóng cửa tiếp thêm 3 nhà máy luyện nhôm với tổng công suất 206.000 tấn/năm.

Trong khi đó, sản lượng nhôm đang gia tăng tại Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Tiểu vương quốc Ả Rập. Theo ước tính, trong vòng 4 năm tới, mỗi nước trên sẽ tăng công suất thêm khoảng 500.000 tấn nhôm/năm. Đến 2011, Trung Quốc sẽ trở thành nhà vô địch với tổng công suất luyện nhôm lên tới 7,6 triệu tấn/năm.

Xu thế thứ ba- gắn chặt với thuỷ điện: Trong quá khứ, cũng như hiện tại và tương lai, nhôm phụ thuộc hoàn toàn vào điện. Các tập đoàn nhôm luôn phải gắn với nguồn cung cấp điện rẻ tiền. Gần 80% sản lượng alumina và nhôm của UC Rusal và 65% sản lượng nhôm của thế giới được sản xuất nhờ nguồn thủy điện. Thủy điện là mô hình liên kết ngang duy nhất của các đại gia nhôm. Chính vì vậy, các nhà máy luyện nhôm đã lần lượt chia tay “mẫu quốc” để đến với các nước đang phát triển có giá điện rẻ.

Nhà máy luyện nhôm Sandow lớn nhất nước Mỹ sẽ đóng cửa cuối năm 2008.
Tập đoàn Alcoa đã phải xây 4 nhà máy điện với tổng công suất 960MW để cung cấp
điện cho nhà máy luyện nhôm này .

Hai vấn đề còn tồn tại trong ngành bô - xít

Các đại gia trên thế giới luôn phải đối mặt với hai vấn đề căng thẳng về xã hội, nhưng vẫn chưa có lời giải hữu hiệu.

Tồn tại thứ nhất- vấn đề bùn đỏ: Mặc dù 87% các nhà máy của UC Rusal đã đạt tiêu chuẩn về môi trường (theo ISO 14001), từ năm 2000 đến nay Rusal đã phải đầu tư 1 tỷ đô la cho vấn đề môi trường. Dự kiến trong giai đoạn 2007-2013 sẽ phải đầu tư tiếp 1,4 tỷ đôla nữa.

Nhà máy alumina của Rusal dự kiến xây dựng ở Komi (có tổng mức đầu tư 2 tỷ USD, công suất 6 triệu tấn bô - xít/năm, tương đương 1,5 triệu tấn alumina hay 0,5 triệu tấn nhôm) đã bị dư luận xã hội phản đối do chưa được nhà nước thẩm định về sinh thái. Các phương tiện thông tin đại chúng phát hiện quặng bô - xít của nhà máy đã làm cho mức phóng xạ nền của địa phương tăng đột biến gần 40 lần, từ 10-12 micron rơngen/h lên tới 400 micron rơgen/h.

Các chuyên gia của Rusal thừa nhận trong quá trình sản xuất, toàn bộ thành phần gây ra phóng xạ cao sẽ nằm lại vĩnh viễn trong bùn đỏ. Người dân địa phương tất nhiên không hoan nghênh món quà này. Còn các cơ quan chức năng cũng chẳng dám phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, mặc dù Rusal đã hứa sẽ xây dựng khu chôn cất chất bùn đỏ rất hoành tráng.

Các dự án alumina trên thế giới không chỉ có các cơ quan chức năng của nhà nước thẩm định, mà còn phải thông qua thẩm định và thỏa thuận của cộng đồng dân cư về môi trường và sinh thái.

Một số nước như Pháp, Áo xử lý bùn đỏ bằng cách đổ ra gần biển. Nước biển và bùn đỏ có thể chung sống bền vững với nhau. Ở Việt Nam, các chuyên gia của COMECON trước đây cũng đã tính tới phương án đưa quặng từ Tây Nguyên xuống Bình Thuận để tuyển và sản xuất alumina, để đưa bùn đỏ ra biển. Nhưng chi phí sẽ rất cao (phải vận chuyển không công gần 70% khối lượng), nên dự án không khả thi.

Chi phí cho việc chôn cất bùn đỏ rất đắt tiền. Dự án ở Aughinsh ở Izland với diện tích 78ha (giai đoạn 2) triển khai trong các năm 2008-2010 sẽ tiêu phí hết 60 triệu USD . Dự án Euralumina (ở Ý) mở rộng bể chứa bùn đỏ gần bờ biển triển khai giai đoạn 2008-2010 sẽ tiêu tốn 81,5 triệu USD.

Đáng chú ý, công ty TenCate của Mỹ đã đưa ra công nghệ Geotube® lưu giữ bùn đỏ trong các túi đặc biệt. Trên cơ sở đó, Canada đã đầu tư 226,8 triệu USD để xây dựng một nhà máy chuyên sản xuất túi đựng bùn đỏ công suất 80.000 tấn/năm (dự kiến hoàn thành cuối 2008). Rusal cũng dự tính sẽ dùng các túi Geotube này để đựng bùn đỏ.

Tồn tại thứ hai- vấn đề việc làm: Ngành bô - xít của thế giới, cũng như của VN, thường phát triển ở những vùng nghèo đói, thưa dân cư, cộng đồng kém phát triển. Vì vậy, về mặt xã hội, một vấn đề tồn tại lớn nữa của ngành bauxte trên thế giới có liên quan đến cộng đồng xã hội là khả năng tạo thêm chỗ làm việc cho dân cư tại chỗ.

* TS. Nguyễn Thành Sơn

Donnerstag, 12. Februar 2009

Những hình ảnh chiến tranh Việt Trung tháng 2/1979

Hình ảnh cuộc Chiến tranh Biên Giới - Việt-Trung 1979-1989

Mình xin được cung cấp 1 số hình ảnh, tài liệu được cung cấp liên quan đến cuộc chiến tranh chống giặc Trung Quốc xâm lăng này. Tô Mai Hồng (Xu Meihong) Một trong những điều làm cho binh sĩ của chúng ta bực tức nhất là nữ du kích Việt Nam. Trong khi tiến phía nam, chỗ nào đã đi qua rồi là chúng ta coi như vùng đó là nơi an toàn, nhưng sự thật thì không phải như thế vì trên nội địa Việt Nam không có nơi nào có thể gọi là nơi an toàn đối với chúng tôi cả. Một đoàn xe tăng T59 đi hàng một trên một con đường núi nhỏ hẹp. Gặp khúc quanh ngặt, xe dẫn đầu phải chạy rất chậm mới có thể quẹo được; nhưng trong khi rẽ thì lổ châu mai dùng để nhắm vẫn đứng yên bất động, không quay theo hướng của chiếc xe. Và chính lúc đó là lúc mà tên du kích dùng súng của bắn vào lổ châu mai và giết chết người lái xe. Lái xe của 7 chiếc xe tăng đều bị giết chết khi họ muốn quẹo xe và cả đoàn cơ giới đành phải dừng lại vì không có bộ binh đi theo hộ tống, và ai cũng tưởng đã gặp phải sức chống cự của một lực lượng hùng hậu của địch. Rồi mọi xe tăng đều bắt đầu xạ kích lung tung vì không thấy mục tiêu. Khi dứt tiếng súng thì cảnh vật lại trở về im lặng với cây rừng. Sau đó một chốc, một đại đội bộ binh được điều đến để lục soát trong vùng. Cuối cùng họ bắt được một nữ du kích Việt Nam với một khẩu súng. Viên chỉ huy đoàn xe giận quá bèn cho lột trần cô ta, trói cả tay chân rồi ném ra giữa đường. Ông ta nhảy lên một chiếc xe và lái xe này chạy qua chạy lại nhiều lần qua cô gái cho đến khi chỉ còn một mớ thịt bầy nhầy trải trên mặt đường núi. Trong khi đó binh sĩ của ông ta lên tiếng cổ vũ rầm rĩ vang cả khu rừng.






Nữ du kích Việt Nam bắt sống bọn Tàu



Quân ta hy sinh





Du kích Việt Nam rule!



Trung Quốc tiến vào Việt Nam





Trung Quốc quỳ gối dưới Việt Nam





Vi Xuyen- Ha Giang 1984





Trung Quốc ở Lào Sản



Quân VN trở về sau cuộc chiến

owned!



Hà Giang 1984



Trên Biên Giới những năm 1984



1 nhóm Trung Quốc tấn công vào hang động, chúng ta đã sử dụng lựu đạn và RPG-7 để tiêu diệt chúng.



Chiến sĩ đi tuần trên biên giới





Quân Trung Quốc áp giải du kích VN



Tàu thương vong vô số



Quân Trung hành quân



T62 tank - 1979



Trung Quốc tiến vào thị xã VN



Bắt sống gián điệp Trung Quốc những năm 1984



Ai bắn quả này phải tuyên dương anh hùng! Nice shot!



Su khi quân VN trở về Lạng Sơn. Trung Quốc đã san bằng









Lạng Sơn 1979

Tô Mai Hồng (Xu Meihong) Trong cuộc chiến tranh "trừng phạt " này, chúng ta đã áp dụng chính sách tiêu thổ đối với Việt Nam. Ngay trong vùng Lạng Sơn có mỏ "lân tinh", chúng ta đã cho công binh tháo gỡ toàn bộ máy móc và dụng cụ dùng để khai thác hầm mỏ này mang về Trung Quốc. Những gì không mang đi được như đường sá, nhà cửa, các con đường hầm, đều bị phá sạch.





Cao điểm 116 sau hơn 8000 quả đạn của quân ta "giã" vào chúng.



Hà Tuyên 1984





Biên Giới 1979





Người TQ đã phải trả quá nhiều máu trên lãnh thổ VN!

BÍ MẬT LỊCH SỬ: TRẬN CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TRUNG-VIỆT LẦN THỨ HAI: 1984-1989. TẦU CHIẾM NÚI LÃO SƠN (BÌNH ĐỘ 1509) (bài 1)




Bản đồ nơi xãy ra trận chiến biên giới lần 2 1984 trong tỉnh Hà Tuyên. Hình trích từ mạng Quốc Phòng Trung Quốc China-Defense.com



Trước hết chúng tôi xin được cám ơn một bạn đọc của Vietnam Exodus đã cung cấp những tài liệu quý báu liên quan đến cuộc chiến tranh biên giới giữa Trung Cộng và Việt Nam lần thứ hai từ năm 1984 đến 1989. Những tài liệu này đa số đến nhiều nhất từ nguồn của Trung Cộng, phần còn lại đến từ những ký ức và cuộc trao đổi lẫn nhau giữa các cán binh bộ đội cộng sản đã từng tham dự trận chiến biên giới lần thứ hai bắt đầu từ năm 1984 và chấm dứt vào năm 1989. Cuộc chiến tranh biên giới lần hai chấm dứt với sự thua trận của cộng sản Việt Nam!

Chính quyền cộng sản VN đã dấu nhẹm cuộc chiến này cũng như việc ký hiệp ước biên giới công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên ngọn núi Lão Sơn ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên.....



Phải nói rằng rất ít người biết đến đến cuộc chiến biên giới lần hai xãy ra vào năm 1984 so với cuộc chiến tranh biên giới vào năm 1979, cho đến khi các tài liệu từ phía Trung Cộng được tung ra. Lý do tại sao cả hai bên Trung Cộng và Việt Nam giữ bí mật về cuộc chiến này vẫn là vấn đềỿ chúng ta cần tìm hiểu. Riêng về phía Việt Nam, việc giữ bí mật về cuộc chiến này có thể giải thích bằng hai sự kiện: Thứ nhất, vào năm 1984, cộng sản Việt Nam ở trong tình trạng tứ bề thọ địch: quân đội CSVN phải đối phó với cuộc chiến tại Cam Bốt; trên trưởng quốc tế, CSVN bị thế giới cấm vận. Thứ hai: nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đang ở trong tình trạng phá sản, cả nước phải ăn bo bo và nạn chết đói đã xãy ra tại Miền Bắc. Với tất cả những khó khăn như thế, CSVN không dám loan tin về một cuộc chiến biên giới lần hai xãy ra tại tỉnh Hà Tuyên. Ŀến khi thua trận, núi Lão Sơn bị chiếm đóng, cộng sản VN im luôn, rồi âm thầm ký hiệp định biên giới nhìn nhận chủ quyền của Trung Công trên ngọn núi này.

Tài liêu từ phía Trung Cộng tung ra không chỉ riêng các ký ức, bài viết mà còn có cả cuộn băng video nói về trân chiến tranh biên giới Trung-Việt lần 2. Cuốn phim video có nhan đề Anh Ngữ là Operation Blue Sword B - tạm dịch là Chiến Dịch Kiếm Xanh B. Trong cuộn phim video này, có ghi lại hình ảnh của những cán binh Trung Cộng chuẫn bị xuất quân vào trận Lão Sơn, và những hình ảnh trở về của những cán binh này. Trong phim còn điểm rõ những cán binh nào đã không có mặt khi trở về so với hình ảnh trước khi xuất quân. Một cuộn phim khác cũng với nhan đề như trên nhưng do quân đội Trung Cộng thực hiện với các hình ảnh cho thấy kế hoạch hành quân được đề ra như thế nào; lính được tổ chức ra sao trước khi vào trận.

Chúng tôi sẽ lần lượt đưa lên trang báo điện tử này những tư liệu liên quan đến cuộc chiến biên giới lần thứ hai - từ năm 1984-1989 trong nhiều bài viết, tổng hợp tất cả những nguồn tài liệu mà chúng tôi tìm được từ cả hai phía Việt Nam cũng như Trung Cộng. Quý bạn đọc nào tìm được những tư liệu nào khác xin vui vòng phổ biến và gởi đến chúng tôi.


CUỘC CHIẾN BIÊN GIỚI LẦN THỨ NHẤT - 1979


Đây là cuộc chiến mà cả thế giới đều biết. Nguyên nhân xãy ra cuộc chiến này - theo sự phân tích của các chuyên gia về Trung Cộng và Việt Nam - là vì Trung Cộng muốn phá vỡ vòng vây của Liên Xô đang muốn bao vậy Trung Cộng ở phía Nam. Sự kiện CSVN đánh chiếm Cam Bốt, tiêu diệt phe Khmer Đỏ do Trung Cộng ủng hộ là hành động Trung Cộng cho rằng CSVN đã theo hẳn Liên Xô và thực hiện các mục tiêu chiến lược bành trướng ảnh hưởng của Liên Xô khắp Ŀông Dương. Hành động này không thể chấp nhận được đối với Trung Quốc khi đứa con ghẻ - CSVN - mà họ đã phải cưu mang, giúp đỡ viện trợ trong cuộc chiến tranh cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, nay lại phản bội họ và đi hẳn vào quỹ đạo của Liên Xô. Trong buổi họp của bộ chính trị Trung Cộng tại Trung Nam Hải, tướng Vi Quốc Thanh - tác giả của trận Ŀiện Biên Phủ - đã tuyên bố: "Trung Quốc sẽ dạy cho Việt Nam một bài học!" Tuy Vi Quốc Thanh không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh biên giới lần thứ nhất 1979, nhưng ông nổi tiếng vì chính câu nói trên. Muốn biết thêm về Vi Quốc Thanh - tác giả của trận Ŀiện Biên Phủ như thế nào xin xem bài Sự Thật Về Huyền Thoại Anh Hùng Ŀiện Biên http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=78




Tướng Vi Quốc Thanh


Sau cuộc chiến biên giới lần thứ nhất năm 1979, cả hai phía Trung Cộng và Việt Nam đều tuyên bố chiến thắng. Tuy nhiên phiá Trung Cộng khám phá ra một sự thật sau cuộc chiến: vũ khí trang bị cho cán binh Trung Cộng thua xa vũ khí của phiá cán binh cộng sản Việt Nam. 2/3 cán binh Trung Cộng được trang bị loại súng 56 bán tự động, trong khi hầu hết cán binh Việt Nam được trang bị súng tự động loại 56 do Trung Cộng, Tiệp Khắc và Liên Xô chế tạo. Về lượng vũ khí, phiá CSVN cũng nhiều hơn so với Trung Cộng nhờ vào kho vũ khí của Hoa Kỳ để lại sau năm 1975!

Có thể nói Trung Cộng đã thành công trong việc dạy cho cộng sản VN một bài học, nhưng thất bại về mặt quân sự!. Trung Cộng mất 30 ngàn quân và phía cộng sản Việt Nam mất 26 ngàn quân không tính số thương dân bị thương vong. Dĩ nhiên cả hai con số thương vong vẫn còn nằm trong vòng tranh cải. Theo tài liệu của Quốc Phòng Trung Quốc thì những sĩ quan tham dự trận đánh biên giới năm 1975 bị kỷ luật bằng cách không cho thăng chức và cho giải ngũ gần hết. Tuy nhiên các các sĩ quan cao cấp tham dự cuộc chiến tranh biên giới lần thứ 2 1984 thì được tăng thưởng và có vị nay đã được đề bạt vào bộ chính trị.




Cán binh CSVN bị bắt làm tù binh trong cuộc chiến biên giới 1979. Để ý, người cán binh này dùng súng M79 và súng tiểu liên của Mỹ.




Lính Trung Cộng tiến vào thị xã Lạng Sơn năm 1979


Doanh trại CSVN bị lính Trung Cộng chiếm năm 1979




CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI LẦN THỨ HAI - 1984-1989


Nguyên nhân cuộc chiến tranh biên giới lần thứ hai xãy ra chính vì sự tranh chấp biên giới tại ngọn núi Lão Sơn ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hạ Tuyên. Ngọn núi Lão Sơn có hình dạng của một chữ "U" nằm gần biên giới giữa Trung Cộng và Việt Nam. Trên đỉnh núi hình chữ "U" đều có có cột biên giới được cắm mốc, và ngọn núi Lão Sơn nằm dưới đáy của chữ "U". Việc tranh chấp không nằm ở cột mốc biên giới, nhưng việc tranh chấp giữa đôi bên là vẽ đưỿng biên giới như thế nào? Phía cộng sản VN cho rằng phải vẽ một đường thẳng giữa hai cột mốc, do đó núi Lão Sơn nằm bên biên giới Việt Nam; thế nhưng Trung Cộng lý luận rằng đường biên giới phải theo địa thế thiên nhiên; thí dụ lằn ranh biên giới phải nằm trên chóp núi; nghiã là Lão Sơn nằm trong biên giới Trung Cộng! Việc tranh cải phương pháp vẽ đường biên giới thoạt đầu tưởng rằng chỉ liên quan đến vấn đề kỹ thuật, nhưng thực chất là một điều quan trọng về mặt chiến lược vì nó quyết định phần lãnh thổ này thuộc chủ quyền của nước nào.

Sau cuộc chiến tranh biên giới lần thứ nhất 1979, quân đội Trung Cộng không theo truyền thống đóng quân dọc biên giới nữa, nên đóng rất xa lằn ranh biên giới. Ngược lại phía cộng sản VN quyết định đóng quân gần biên giới và nhất là đóng quân trên đỉnh núi Lão Sơn cùng với những ngọn núi lân cận.

Học được bài học 1979, trong thời gian 5 năm, từ năm 1979 đến năm 1984, Trung Cộng quyết định canh tân quân đội, và mua thêm các thiết bị quân sự từ Hoa Kỳ để chuẫn bị cho cuộc chiến tranh biên giới lần thứ hai. Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây là sau cuộc chiến tranh 1979, Trung Cộng và Việt Nam không hề ký bất cứ một hiệp ước đình chiến nào cả, nên về mặt kỹ thuật cả hai nước vẫn còn trong tình trạng chiến tranh. Với chủ trương tiếp tục dạy cho cộng sản VN một bài học và làm cho CSVN tiếp tục chảy máu, Trung Quốc lấy cớ quân cộng sản VN chiếm đóng núi Lão Sơn - là đất của Trung Cộng, nên xua quân tràn vào đánh chiếm lại Lão Sơn.

Từ năm 1984 đến năm 1989, nhiều trận giao tranh đã diễn ra giữa quận đội Trung Cộng và CSVN, và có lần lên đến cả cấp sư đoàn. Trận giao tranh lớn nhất xãy ra là vào ngày 12 tháng 07, 1984 tại ngọỿn núi Lão Sơn. Ŀến ngày 28 tháng 04, 1984, Trung Cộng chiếm được núi Lão Sơn. Những cuộc phản công sau đó của quân đội cộng sản VN nhằm chiếm lại Lão Sơn hoàn toàn thất bại. Những trận đánh lớn xãy ra tại Lão Sơn và những ngỿn núi lân cận được ghi nhận vào các ngày:

12 tháng 7, 1984
20, 21 tháng 12, 1984
15 tháng 1, 1985
8 tháng 03, 1985
19-20 tháng 07, 1985
23 tháng 09, 1985
28 tháng 01, 1986
19 tháng 10, 1986
6 tháng 01, 1987
23 tháng 04, 1987


Trong trận chiến 1984, quân đội Trung Cộng được trang bị vũ khí tối tân hơn với loại súng 81, và mỗi người lính được trang bị áo giáp. Ŀặt biệt nhất là việc xử dụng hệ thống radar mua của Hoa Kỳ nhằm dò tìm địa điểm xuất phát của pháo binh địch để bắn trả.. Hệ thống radar này chính xác đến độ chỉ cần pháo binh CSVN bắn phát đầu tiên, vài giây đồng hồ sau, Radar cho biết toạ độ của viên đạn được bắn ra. Biết được toạ độ của CSVN, pháo binh của Trung Cộng chỉ cần không đầy 3 phút để bắn trả lại. Kết quả là pháo binh của CSVN bị đánh tan ngay từ những phút đầu tiên của trận đánh.


(còn tiếp)





Ảnh trích từ mạng Quốc Phòng Trung Quốc (Defense-China.com). Đọan phim video

tài liệu về kế họach và hành quân đánh chiếmLão Sơn. Phim video có tên Operation

Blue Sword B.